Thứ sáu, 07/06/2019 | 10:42

Xây dựng tổ chức hội trong tình hình mới

Ngày 10 tháng 1 năm 2004, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam được thành lập (tên tiếng Anh: Vietnam Association for Victimes of Arange/dioxin, viết tắt: VAVA). Hội được xác định “là một tổ chức xã hội đặc thù, thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội được Đảng, Nhà nước giao” (Thông báo Kết luận số 292-TB/TW ngày 18/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng).

Sau 15 năm thành lập, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam thực sự trở thành nơi gửi gắm niềm tin và đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp cho các nạn nhân CĐDC Việt Nam

Tính đặc thù và tính chính trị - xã hội của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam được làm rõ trên một số vấn đề sau:

1- Hội là tổ chức được thành lập nhằm góp phần giải quyết hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam; một vấn đề có ý nghĩa rất lớn về chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội và khoa học. Tên của Hội cũng đã nói lên điều đó, đây cũng là lời tố cáo cuộc chiến tranh kéo dài 21 năm, trong đó có 10 năm Mỹ sử dụng chất độc hóa học với quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, để lại hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử loài người, cũng là lời thức tỉnh kêu gọi cộng đồng và bè bạn quốc tế cùng nhau khắc phục hậu quả, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam.

2 - Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam với nhiệm vụ cơ bản xuyên suốt là: Vận động nguồn lực xã hội để chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân và đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Hội không chỉ thực hiện nhiệm vụ đối nội mà còn làm nhiệm vụ đối ngoại nhân dân trong tình hình quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ đang phát triển trên tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, vấn đề da cam là “rào cản cuối cùng” trong quan hệ Việt- Mỹ

3 - Hội bao gồm những người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ, những người bị phơi nhiễm bởi chất độc hóa học và những người hết lòng vì nạn nhân chất độc da cam. Vì vậy, hoạt động của Hội vừa thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” đối với những người có công, vừa phát huy truyền thống “Thương người như thể thương thân” đối với nhân dân ở nơi bị phơi nhiễm chất độc hóa học.

Trải qua hơn 15 năm hoạt động, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đã có gần 500.000 hội viên, có 100% tổ chức hội ở cấp tỉnh, thành; có 88,61% hội ở cấp huyện, quận và hơn 61% hội ở xã, phường, thị trấn. Hệ thống tổ chức Hội hoạt động khá hiệu quả. Trong nhiệm kỳ 2013-2018 (đến tháng 9/2018), vận động Quỹ đạt hơn 1.139 tỷ đồng; dịp tết nguyên đán Kỷ Hợi toàn Hội vận động được hơn: 125 tỷ đồng.

Đặc biệt, ngày 14 tháng 5 năm 2015, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 43-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giải quyết hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam; trong đó Ban Bí yêu cầu: “ Các cấp ủy đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”. Nhận thức rõ vấn đề này, cấp ủy, chính quyền các cấp đã quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện cho Hội củng cố tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, phát triển hội viên, hỗ trợ trụ sở, phương tiện làm việc và thực hiện khá tốt các chính sách đối với cán bộ làm công tác hội.

Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, trong đó có cán bộ Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin mới chỉ thấy tính chất xã hội, từ thiện nhân đạo, mà chưa nhận thức rõ tính chất chính tri - xã hội của Hội. Có biểu hiện hạ thấp vai trò, vị trí của Hội hoặc đồng nhất Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin với các hội mang tính xã hội - nhân đạo thuần túy. Một số cán bộ lãnh đạo địa phương chưa quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Ban Bí thư đã được nêu rõ trong Chỉ thị 43: “Công tác khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đối với môi trường và sức khỏe con người là vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài, là trách nhiệm của mỗi cấp ủy đảng, chính quyền, của cán bộ, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị”; chưa thấy được sự cần thiết phải có Hội ở những nơi có đủ điều kiện thành lập tổ chức hội.

Vừa qua ở một số địa phương đã sáp nhập một số hội có tính chất, chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động gần giống nhau. Tên gọi cũng gộp theo dạng “liên kết hội”; ở một số nơi chưa phản ánh đúng vai trò, vị trí và tính chính trị - xã hội của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Đây là điều không hợp lý và rất đáng tiếc.

Để đáp ứng những đòi hỏi về thực hiện nhiệm vụ của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin hiện nay, vấn đề cần đặt ra là:

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khắc phục thảm họa da cam; chính sách đối với nạn nhân CĐDC. Coi trọng công tác giáo dục, động viên, giúp đỡ nạn nhân chủ động hòa nhập cộng đồng; chống một số biểu hiện của tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tiêu cực, dựa dẫm, ỷ lại trông chờ. Làm tốt việc động viên, khen thưởng những tổ chức, cá nhân có thành tích tốt trong chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân, những nạn nhân vượt khó vươn lên, những cán bộ hội tiêu biểu, những tấm lòng vàng.

2. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội, hướng về cơ sở, hướng về nạn nhân. Cán bộ hội các cấp cần nêu cao trách nhiệm, kiên trì triển khai thực hiện nhiệm vụ của hội, vừa vận động, vừa làm tham mưu, vừa thuyết phục, vừa tranh thủ sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể để xây dựng, củng cố hội; không buông xuôi, trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm.

3. Những địa phương tổ chức hội ổn định, cần tiếp tục phát huy, làm tốt hơn nữa nhiệm vụ chức năng của hội, nêu cao vai trò, vị trí của hội. Hội thực sự là chỗ dựa của nạn nhân, được lãnh đạo địa phương và nhân dân tin tưởng.

4. Một số ít địa phương đã sáp nhập cần nhanh chóng ổn định, tích cực hoạt động, có sự phân công rõ ràng trong từng nội dung nhiệm vụ. Cần tổ chức rút kinh nghiệm hoạt động sau sáp nhập, đánh giá những gì thuận lợi khó khăn, những gì vướng mắc, cần báo cáo đề xuất để xây dựng hội.

5. Những địa phương có hướng sáp nhập nhưng chưa thực hiện, Hội cần kiên trì thuyết phục các đồng chí lãnh đạo và đề nghị giữ nguyên tổ chức hội. Đồng thời trao đổi với các địa phương đã sáp nhập để học hỏi kinh nghiệm, nắm chắc những bất cập trong sáp nhập hội để vận động, thuyết phục lãnh đạo và cơ quan liên quan. Mặt khác cần chủ động vận động nguồn lực để góp phần cùng với địa phương giải quyết một phần khó khăn, áp lực chi ngân sách ở địa phương, đó cũng là cách để hội đứng vững.

6. Công tác chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam cần được đặt lên hàng đầu, là nhiệm vụ hàng đầu, lấy đó là thước đo chủ yếu để đánh giá năng lực, hiệu quả hoạt động của Hội. Cần có nhiều hình thức, cách làm, biện pháp đa dạng, phong phú để vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng chung tay xoa dịu nỗi đau da cam.

7. Nắm vững quan điểm “Kiên trì đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam”; tích cực tham gia các hoạt động ủng hộ cuộc đấu tranh buộc Mỹ phải chịu trách nhiệm tham gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do họ gây ra ở Việt Nam.

Bên cạnh những thuận lợi, hoạt động của Hội trong tình hình mới còn nhiều khó khăn thách thức, do đó đòi hỏi các cấp hội phải chủ động, linh hoạt, nhạy bén, có cách làm sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương; tăng cường hơn nữa mối quan hệ với các cấp, các ngành, tranh thủ, tận dụng sự giúp đỡ của cấp ủy đảng, chính quyền để tổ chức hoạt động của Hội đạt hiệu quả, phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Nguyễn Văn Khanh

Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân CĐDC/dioxin Việt Nam