Thứ ba, 28/05/2019 | 06:07

Nỗi đau trên miền đất khó

Tôi đã đi và gặp, gặp quá nhiều nỗi đau về những nạn nhân chất độc da cam. Sau ngày Mỹ gieo rắc thảm họa da cam cho dân Việt, tôi lại lục tìm những tình cảnh mình đã gặp. Trong một nỗi đau, nỗi đau nào nhớ nhất, hẳn đấy là nỗi đau ám ảnh nhất. Và tôi chắc, những nỗi đau mình nhớ, “liệt kê” ra đây là ám ảnh nhất do di họa chiến tranh về chất độc da cam để lại.

Nạn nhân của chất độc da cam là một bằng chứng tố cáo tội ác của Đế quốc Mỹ trong thời gây chiến ở Việt Nam

Huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên, kéo một chiều dài gần 100km lên tới nước bạn Lào. Trong lịch sử chiến tranh ác nhất và tàn bạo nhất, có sử dụng hóa chất dioxin mà nhân loại chưa từng chứng kiến, được Mỹ thực hiện ở Việt Nam thì huyện này được “chú ý” vì Mỹ đã rải xuống đây tới trên 434 nghìn ga – lông chất da cam. Lúc đó để hoán lừa dư luận và ngụy biện cho sự độc ác của mình, người ta bảo rằng đó là chất khai quang và… diệt cỏ.

Tại sao quân đội Mỹ ngày tham chiến tại Việt Nam lại rải cái thứ chất độc hại chết người kia lên A Lưới, bắt dân lành phải gánh chịu? Chỉ đơn giản là nơi ấy có Quốc lộ 49, ngày xưa là một nhánh đường huyết mạch Trường Sơn để quân giải phóng tiến vào giải phóng Miền Nam, đem lại sự thống nhất cho toàn dân tộc Việt. Những cánh rừng trơ trụi nham nhở sau khi rải độc và có đến 50 năm rồi, rừng đất, con người nơi đây vẫn chưa “hoàn hồn”.

Sau gần 60 năm rừng núi, con người bị đánh độc, nỗi đau được cộng dồn lũy kế, đưa tổng số 20 xã của huyện đều có người bị nhiễm độc, đó còn chưa kể đến hàng nghìn những đứa trẻ sinh ra bị dị tật. Sau khi Mỹ rải hóa chất dioxin, đất đai và con người bị đánh độc, cao điểm nhất của hậu họa phải kể đến năm 1967 – 1968. Những năm này, cây cối bị hủy diệt, đồng bào Pa Cô, Vân Kiều đói lắm. Bên cạnh sự đói và khát, những năm này, tại nhiều nơi không một đứa trẻ nào được ra đời. Phụ nữ thai nghén, đến kỳ sinh nở đều bị sảy hoặc chết lưu thai.

Hồng Trung, A Ngo, Ta Ngạn, Ta Kông, Cu Bung, A Loh 35… những nơi trọng điểm của việc rải hóa chất da cam người dân vẫn nhớ lại những ngày tháng khủng khiếp ấy. Từng đoàn máy bay nối nhau quạt cánh lên đây. Rồi từ bụng và lườn của những con “chuồn chuồn thép” ấy một thứ chất đục, đặc như khói đốt nương mà người Pa Cô, Vân Kiều vẫn từng thấy phun ra, rớt xuống từng cánh rừng, mái nhà và những đầu người dân khốn khổ. Sau một đêm “ngấm thuốc”, sáng dậy đồng bào thấy người uể oải, miệng đắng như ăn nhầm lá cây độc trên rừng, còn cây cối thì chỉ sau đó một thời gian đều héo và chết như bị hơ lửa.

Nạn nhân chất độc da cam rất cần quan tâm và chia sẻ

Đi trong các vùng trọng điểm nhiễm độc, đối diện với từng con số, tôi lạnh tê tái người. Riêng xã Hồng Trung, được coi là xã có số lượng trẻ mắc dị tật nhiều nhất. Những đứa trẻ bị dị tật, chúng đều có một dị tật na ná giống nhau: Dị dạng, câm, điếc, mù, lòa… Trung bình hiện nay ở Hồng Trung có trên 1 đứa trẻ ảnh hưởng do di họa da cam/1 gia đình.

Ám ảnh nhất với tôi sau những ngày tháng vào đất này rồi trở về đó là hình ảnh của người phụ nữ có tên Kăn Lây ở thôn Hợp Thành, xã A Ngo. Người phụ nữ này đã sinh ra “những đứa trẻ đa đoan” của dị tật. Đau buồn, chị không khóc được nữa khi kể về mình. Hình như nước mắt chị đã cạn kiệt cho những lần khóc về số phận mình, những đứa con dị tật của mình!

Kăn Lây bảo, ngày Mỹ rải thứ chất độc kia chị còn trẻ lắm, hình như mới 16 – 17 thì phải. Sau năm Mỹ rải chất độc, không cây cối nào sống được, làng đói. Sống khỏe như cây chuối mà cũng phải chết, chỉ còn mỗi củ thôi. Đói, cùng dân làng, chị lên núi đẽo củ chuối về ăn. Chị đâu ngờ đã nhiễm hậu họa từ đó.

Rồi chị lấy chồng, có con và mong mỏi ngày đứa con ra đời. Thật không ngờ, cái ngày ấy lại là ngày buồn tủi nhất của đời chị. Đứa con sinh ra, tròn ủng, không chân tay, chỉ là “một cục thịt” gồm phần đầu và phần thân với 2 con mắt đầy oán hờn nhìn chị. Ngày ấy, người dân chưa biết đó là di họa chất da cam để lại. Nhìn đứa con dị dạng của chị, ai cũng bỏ chạy và đơm điều tiếng cho chị và gia đình.

Ngậm ngùi, vượt mọi điều tiếng, chị lại tiếp tục có thai 3 lần nữa nhưng đều hỏng. Cuộc đời là sự hy vọng, mòn mỏi về con cái nhưng chị vẫn can đảm, có tiếp đứa thứ 4 vào năm 1991. Đứa thứ 4, tên Bắc ra đời, có hơn mấy đứa trước, nhưng nó cũng không bình thường được. Nó vẫn liệt, không biết nói cười, ngày đêm chỉ biết cuộn tròn thu lu trên giường và hú hét khi đói bụng hoặc nóng nực.

Theo thống kê, trong vòng 10 năm gây chiến (1961 – 1971) quân đội Mỹ đã rải xuống miền nam Việt Nam trên 80 triệu lít chất độc da cam, trong đó có gần 400kg độc tố dioxin. Hàng nghìn ha rừng bị cháy, hơn 4,8 triệu người đã bị nhiễm độc, hàng vạn người đã chết, hiện nay còn hàng triệu người bị nhiễm độc trực tiếp đang phải vật lộn với những bệnh nan y. Chiếm phần đông trong số này là các cựu chiến binh, có con cháu bị dị dạng, dị tật do ảnh hưởng di truyền, không thể tự lực trong sinh hoạt mà bố mẹ, ông bà phải phục vụ.

Theo số liệu của GS, TS Nguyễn Trọng Nhân khi tham luận tại Hội nghị thường niên của ASA: Chỉ cần bỏ 80 gram đi-ô-xin vào hệ thống cung cấp nước thì toàn bộ dân số một thành phố 8 triệu người sẽ chết hết.

An Nhiên

Phát động Chương trình Nhắn tin “Chung tay xoa dịu nỗi đau da cam – 2020”

Sáng 12/3/2020, tại Hà Nội, Trung ương Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam phối hợp với Cổng Thông tin nhân đạo Quốc gia 1400 tổ chức Lễ phát động Chương trình “Chung tay xoa dịu nỗi đau da cam - năm 2020”, với cú pháp DA CAM gửi 1409 (20.000 đồng/01 tin nhắn), nhằm kêu gọi sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước giúp đỡ NNCĐDC vượt lên nỗi đau về thể xác và tinh thần, thêm động lực vươn lên trong cuộc sống. Chương trình sẽ diễn ra đến hết ngày 08/5/2020.