Thứ sáu, 24/05/2019 | 16:05

VAI GẦY, GÁNH NẶNG, ĐƯỜNG DÀI

Tôi là người cùng xóm với vợ chồng chị Trương Thị Lưu. Cùng xóm, nhà lại gần nhau nên hiểu nhau, quan tâm giúp đỡ nhau. Một buổi gặp tôi anh bảo: "Em hoàn thành nghĩa vụ quân sự về địa phương đã được hai năm. Nhà em là giáo viên dạy tại xã đã về nghỉ hưởng chế độ "về một lần". Vợ chồng em làm ăn thuận lợi lắm! nhưng em vẫn rất muốn đi công tác, em sang nhờ bác giúp em, bác giúp em được không hả bác?". Tôi biết rõ gia đình anh, lại thấy anh có đủ điều kiện, hơn nữa cơ quan cũng đang cần người, tôi nhận lời. Tháng sau, nhân dịp về sở họp tôi báo cáo giám đốc sở về việc trên. Giám đốc hỏi kỹ mọi điều và đồng ý với đề nghị của tôi. Tôi báo tin vui và giúp anh chuẩn bị hồ sơ. Anh phấn khởi lắm!

Nhưng rồi một tối, anh sang nhà tôi, chè nước xong anh ngập ngừng: "Hôm rồi em nhờ bác, vợ chồng em cám ơn bác! nhưng nhà em suy nghĩ lại và bảo em: "Bây giờ có hợp tác xã, làm nông nghiệp tốt lắm! anh cũng đi mãi rồi thôi ở nhà cùng em sản xuất" em phân tích và không đồng ý, nhưng cô ấy một mực: "Em nhất định thế đấy". Em nói thế nào cũng không được, "đất chẳng chịu trời, trời chịu đất". Em đành sang bác và xin bác thông cảm cho em". Tôi lấy làm tiếc vì nếu anh được vào cơ quan tôi làm việc, hai anh em cùng xóm sớm tối đi, về cùng nhau thì hay biết mấy. Tiếc đấy! nhưng cũng không khác được.

Lúc này phong trào hợp tác xã nơi tôi phát triển mạnh. Nông dân nô nức vào hợp tác, phấn khởi lao động sản xuất. Đang làm ăn manh mún, riêng lẻ mạnh ai người ấy làm, phải tự lo liệu mọi thứ: giống má, thời vụ, phân bón, phòng hạn, trừ sâu, rồi lo cấy kịp thời để tránh "đói thì ăn sắn, ăn khoai, chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng. Gặt cũng lo sao gặt nhanh khỏi bị "lúa rũ, treo đèn", thóc "cười mậm trắng". Quả là cắm được cây mạ xuống ruộng là "trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm". Có hợp tác xã ruộng đất được cải tạo, san ghềnh, lấp trũng, bờ vùng, bờ thửa, đường nội đồng chở phân, mạ, lúa bằng xe cải tiến, xe trâu đôi vai được giải phóng, rồi, mương tưới, mương tiêu khắc phục được hạn hán, rồi thuốc sâu phòng trừ được sâu bệnh… Tất tần tật có ban quản trị lo liệu, công xá có đội trưởng điều hành. Đặc biệt là hợp tác xã có nhà giữ trẻ, xã viên gửi con vào nhà trẻ thỏa sức theo công điểm, công điểm nhiều được chia thóc nhiều, đã thế lại có thời gian chăm sóc vườn tược, ao cá, bãi chè, đồi cây, chăn nuôi trâu, lợn, gà. Có hợp tác xã, có kỹ thuật trồng cấy, thâm canh tăng vụ giống cây trồng, vật nuôi tốt… Nhờ thế chiêm, mùa lúa vàng chắc hạt, mùa về thóc vàng sân, rơm thơm tràn ngõ. Nhà nhà thóc đầy bồ, gà nhiều, lợn béo, thóc thừa ăn bán có tiền, chè bán có tiền; lại có tiền nghề phụ mây, tre đan, thợ nề, thợ mộc. Mọi thứ tiền cộng lại dư sức xây nhà mới, mái ngói, mái bằng, tầng hai, tầng ba, kiểu cách hoặc cơi nới nhà cửa, các công trình công cộng cũng được xây dựng khang trang. Làng xóm thay da, đổi thịt, nhân dân hồ hởi, phấn khởi vô cùng. Trong niềm vui chung ấy, có anh chị Lưu – anh chị lại trẻ, khỏe, sung sức, có trình độ văn hóa, hiểu biết rộng, năng nổ, ham làm lại giỏi giang. Đi làm nhiều, công điểm nhiều, thóc được chia nhiều, thóc cấy ruộng phần trăm cộng lại anh phải xây hai gian nhà kho theo kiểu "kho cuốn" của nhà nước có rãnh thông hơi để chứa thóc. Chè tốt mỗi lứa năm, bảy chục cân chè khô, anh mua "hộc" chè thay cách sao chè bằng chảo. Tôi và mấy nhà trong xóm thường đem chè đến hộc chè nhà anh sao nhờ. Thổ cư của anh, chị lại rộng làm nhà rồi vẫn có đất trồng cây, trồng chè, xây chuồng trại chăn nuôi; thu nhập ngày càng tăng, anh xây nhà kiên cố, mua phương tiện phục vụ chăn nuôi, trồng trọt, sắm giường, tủ, bàn, ghế cho sinh hoạt. Anh chị còn rất chú ý chăm sóc sức khỏe, chăm lo việc học hành của mấy đứa con, chúng khỏe mạnh tươi tắn, cảnh nhà thật hạnh phúc, thanh thản, yên ấm, no đủ mọi bề…

Những tưởng, hạnh phúc mỉm cười với anh chị; nào ngờ, giông bão ập đến, anh đang trai tráng, khỏe mạnh, xốc vác công việc, bỗng dưng uể oải, mệt mỏi, cơm ăn bữa lưng, bữa vực, ngủ không ngon giấc, trằn trọc, mê sảng, có đêm thức trắng. Người anh gầy sọp, vêu vao, anh đi trạm xá rồi bệnh viện khám, uống thuốc cũng chẳng thấy khỏe lên, có bữa nằm bệt trên giường mấy ngày liền, một hôm gặp tôi anh nói trong hơi thở: "Dạo này em mất ngủ, có đận mất ngủ liền mấy tháng mệt quá bác ạ!". Nhìn anh xanh xao, gầy dộc tôi bảo: "anh bảo chị mua "tâm sen" về uống, tâm sen chữa chứng mất ngủ hiệu nghiệm lắm!" chị mua tâm sen, anh uống tâm sen hàng tháng nhưng mất ngủ vẫn hoàn mất ngủ và anh ngày càng ốm yếu, suy sụp.

Ốm nằm đấy, thương vợ, thương con nhưng sức kiệt, anh không buồn động chân, nhấc tay đành bỏ mặc tất cả: bỏ mặc chị lo công điểm, bỏ mặc chẳng cả ngó ngàng gì đến "kho thóc", bỏ mặc hộc chè buồn thiu, lạnh tanh củi lửa, bỏ mặc cuốc xẻng, bình phun thuốc lăn lóc góc vườn và mặc cho gà kêu, lợn réo inh ỏi đòi ăn. Càng nằm bẹp càng thương vợ, thương đến đau lòng… Chiều buông, chị đi làm về vào với anh, nhìn dáng vẻ bơ phờ, mệt mỏi của vợ anh lắc đầu: "mình khổ rồi! tôi biết, vì tôi mà mình…mà mình khổ!" Anh khóc, đưa tay nắm tay chị. "anh ơi! anh phải chịu khó uống thuốc, cố gắng ăn, uống sẽ khỏi bệnh, anh yên tâm, em lo tốt mọi công việc mà!" chị kéo chăn đắp cho anh rồi lặng lẽ xuống bếp lo bữa tối.

Ngày, tháng dần trôi, bệnh anh ngày càng nặng, mặc dù đã đi hết bệnh viện này, bệnh viện khác, hễ thấy nơi nào có thầy giỏi, thuốc hay là chị tìm đến để lo chạy chữa, mua thuốc men, chị và gia đình tận tâm, tận lực chữa bệnh cho anh "còn nước, còn tát, tát đến giọt cuối cùng!" nhưng "bệnh trọng", rồi vào một chiều đông lành lạnh, anh đã "ra đi" lúc chỉ mới bốn mươi tư tuổi đời. Anh ra đi, làng xóm, anh em, bè bạn thương tiếc, xót sa; anh ra đi, chị bàng hoàng, đứng lặng để bà con mặc áo, mũ xô trắng cho chị, chị đứng chết lặng, cay đắng nhìn bốn mái đầu xanh của bốn đứa con đầu trắng khăn tang chở bố, chị đau đớn nhìn bao người đội khăn tang lặng phắc, nhìn khói hương lan tỏa, tiếng kèn u sầu, não nề, vò xé tâm can…

Anh đi xa, để lại bốn đứa con thơ dại cho chị, người vợ đầu xanh tuổi trẻ, chị ngất xỉu, buồn tủi, khổ đau nhưng phải gắng gượng cơm, cháo qua ngày với những đứa con vừa mất cha, đứa khóc, đứa mếu, đứa nằm không buồn dậy. Quá đau đớn, chị tủi thân nghĩ ngợi đêm này, đêm khác… rồi gồng mình vươn lên với gánh nặng áo cơm, chị nhủ mình phải cố chịu đựng! chị cố làm ăn, chăm sóc các con, thay cha của chúng.

Thời gian trôi nhanh, chị và gia đình lo cúng "tứ cửu", cúng "bách nhật" cho anh, rồi giỗ đầu, giỗ hết. Bao ngày tháng sớm tối bưng cơm lên thắp hương cho chồng, chị đứng chết lặng trước bàn thờ, khói hương nghi ngút, lệ rơi…

Giông bão, nỗi đau, tưởng đến thế là cùng; nhưng không! giông bão lại ập đến, chị lo lắng sợ sệt…Chị không hiểu sao mấy đứa con đang khỏe mạnh là thế, có buồn, nhớ bố, nhưng vẫn ăn học, bỗng dưng cả ba đứa kêu: "mỏi lắm, mệt nữa mẹ ạ", đứa thì đêm, đêm rên rỉ, trằn trọc, đứa hôm trước không sao, hôm sau nằm bẹp trên giường, bỏ ăn, bỏ học, nức nở khóc. Chị buồn rầu, xem xét từng đứa và thắc thỏm lo sợ…Và, rồi nỗi lo sợ ập đến với chị - bởi cái ngày ấy, mấy đứa con được xã đưa ra bệnh viện huyện để khám bệnh chất độc da cam, mang kết quả về "cả 3 đứa đều nhiễm chất độc da cam do bố để lại" chị thất kinh, hốt hoảng, rụng rời kêu lên "các con ơi! các con ơi!" rồi khụy ngã, nằm lặng trên giường lúc mơ, lúc tỉnh, lúc nghẹn ngào "vâng" - "dạ" đáp lời bạn bè thăm hỏi.

Nỗi buồn, khổ, tủi cực gian nan và đau đớn của chị…Ông cán bộ hưu trong xóm đã ngậm ngùi thương cảm viết lên bài "Lặng phắc khúc chiều buông" tôi đọc trên Tạp chí Da Cam của Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/Dioxin Việt Nam. Những vần thơ làm đau nhói tim tôi khi đọc: "Gánh nặng áo cơm đè lên vai chị\Kể từ khi anh từ giã cõi đời\Đắng lòng thương con lâm cảnh mồ côi\Tủi phận hẩm hiu xót mình góa bụa\Con gái lớn ngồi ngây bên bậu cửa\Tuổi thanh xuân mà như một cây khô\Môi tím, tái mắt thẫn thờ ngực lép\Buồn ủ ê chẳng thấy cười bao giờ\Con gái bé lại ngu ngơ khờ khạo\Chậm chạp yếu hèn kém cỏi mọi bề\Thương mẹ quá giành mẹ lo đôi việc\Nhưng sức hèn ngồi thở, khóc sau nhà\Nhìn con trai ôi cay đắng sót sa\ hân tiều tụy bủng beo mặt tái mét\Học không nổi lủi thủi rời khỏi lớp\Mắt đỏ hoe nhìn khắp lượt bạn bè\Cô đến bên trò an ủi, lệ nhòa\Trò nghẹn ngào "cô ơi em không thể"\Về mẹ hỏi mẹ ơi, không học nữa!\Chất độc da cam buốt quá mẹ ơi\Cầm tay con chị uất hận nghẹn lời\Cả ba con tôi trời ơi nhiễm độc\Bốn mẹ con cùng đầm đìa nước mắt\Bốn mẹ con cùng lặng phắc chiều buông!\Ngôi nhà nhỏ mười mấy năm vắng anh\Là những đêm thâu chị khóc dấm dứt\Là những ngày dài chị cười - mà khóc!\Là những tuần nhang chị thắp cho anh\Là hai con gái mà nhà vắng tanh\Chẳng ai vấn danh, chẳng ai chạm ngõ\Là con trai hai mươi mà không thể\Tính chuyện dắp danh bắn sẻ cho con\Chất độc da cam! chất độc da cam\ Hỡi bọn sát nhân, hỡi lũ dã man\Mau quỳ xuống! quỳ xuống mà đền tội\Lửa hờn căm thiêu mi thành tro tàn!

Nỗi đau đớn, tủi cực đeo bám chị sáng, trưa, chiều, tối, đeo bám cả trong giấc ngủ, bữa ăn của chị. Đọc những vần thơ viết về giấc ngủ của chị mà nao lòng, mà thương người mẹ cô đơn bất hạnh!: "Đêm đêm chị bàng hoàng giật thốt\Đứa rên la, đứa kêu buốt đầu\ Đứa ngoài trời lẩn thẩn đếm sao\ Rồi thét lớn mẹ ơi chất độc\Vỗ về con thương con chị khóc\Gà sao sác…eo óc cuối thôn".

Trong giấc ngủ thì thế, trong bữa ăn thì: trong nhân gian, trong cuộc sống của mỗi gia đình thì bữa sáng, bữa trưa còn có thể vắng thiếu người nhà vì đi làm chưa về kịp; nhưng bữa chiều (bữa tối) thì không, Bữa này là lúc mọi người trong nhà về đông đủ, quây quần xum họp, chuyện trò, sẻ chia, vui buồn, bữa cơm tối của mọi nhà là thế, nhưng nhà chị thì không, không một chút "tuyệt vời" mà bữa cơm còn làm đau thắt lòng chị vì: "Bên hàng xóm bữa cơm xum họp, đông đủ, vui vầy bên mâm cơm; còn nhà chị cơm chín bưng lên, chị vào buồng gọi từng đứa một; đứa kêu rên, đứa sụt sịt khóc; đứa không đâu mẹ ơi để chốc ăn; buốt nhói tim nghĩ thương các con, cơm không ăn, nhìn mâm cơm nguội lạnh, bát, đũa chỏng trơ, chị uể oải, lẳng lặng bưng mâm xuống bếp rồi khóc thầm lặng lẽ.

Cuộc đời chị từ khi mất anh buồn khổ, đắng cay trăm chiều những tưởng khó mà chịu nổi, nhưng chị nhìn mấy đứa con, thấy nội ngoại thương, chăm sóc các cháu, thấy bà con xóm làng cảm thông, thăm nom, giúp đỡ, thấy chính sách của nhà nước quan tâm chị cũng thấy được an ủi phần nào mà nguôi ngoai nỗi buồn. Nghĩ thế, chị càng cố sức và gồng mình với cái gắng nặng "ngàn cân"! cố đi – đi mãi trên con đường dài hun hút. Gắnh nặng đè lên đôi vai gầy của chị từ lúc vai còn tròn lẳn, tóc còn xanh, nay vai gầy, tóc bạc, đứa con đầu đã gần bốn mươi tuổi! ôi! chặng đường đầy chông, gai, hiểm hóc…Ai ai cũng nói: "Vợ chồng song toàn chỉ một đứa con nhiễm chất độc da cam đã khổ sở lắm rồi, đằng này chị góa bụa, đơn côi một mình nuôi ba đứa con nhiễm chất độc da cam, nuôi trên hai mươi năm rồi và còn tiếp tục nuôi nữa! Nhưng, nuôi con mà hy vọng mong manh "các con như ngọn đèn trước gió". Thế nên thương chị, quý mến, nể phục chị và cũng cảm thông với chị khi xao lòng: Đêm trắng chị nhớ lại những năm, tháng hạnh phúc, nhớ anh, chị thổn thức: "anh ơi! anh có biết, cái buổi tiễn anh "đi", đẫm lệ hàng mi, lòng em đau như dao cắt, giờ tóc em đã bạc, gánh nặng càng oằn vai, các con dần kiệt sức, nghiệt ngã trời hỡi trời! Đêm khuya, khuya lắm rồi, con đau trằn trọc, khóc, em đứt từng khúc ruột, những muốn "đi" cùng anh, ngặt nỗi thương các con, mà em phải cố gắng, vươn lên.

Đời chị Lưu – đời người mẹ bất hạnh. Ông cán bộ hưu trong xóm đã viết bài "Lặng phắc khúc chiều buông! "Bài thơ đã nói nên khổ đau, nghiệt ngã của cuộc đời chị. Tôi nghĩ, đời chị điêu đứng, khổ sở, đắng cay! Tôi cũng không biết nói gì, tôi biết rõ mình không thể nói, không thể diễn tả nổi, nhưng tôi đã viết, viết vì thương cảm, quý mến, nể trọng chị và những muốn được sẻ chia và còn muốn có nhiều sự chia sẻ của cộng đồng đến với chị. Và tôi hy vọng, tin tưởng bởi các chế độ, chính sách của đảng, nhà nước và của gia đình, họ hàng, anh em bạn bè và nghị lực của chị. Hy vọng, chị sẽ vượt qua tất cả để đi tiếp trên con đường còn nhiều khó khăn nhưng sẽ đến đích của sự tốt đẹp.

Chu Ngọc Long