Thứ sáu, 05/04/2019 | 08:31

“Tôi đã yêu người Việt Nam và đất nước của các bạn mất rồi!”

14 tháng phục vụ trong Sư đoàn Bộ binh 4 đóng quân tại Tây Nguyên (từ tháng 3/1970 đến tháng 5/1971), David M. Brown, một cựu chiến binh Mỹ đã có bao nỗi niềm riêng tư chất chứa trong lòng. Gần 50 năm sau, những nỗi suy tư của ông mới được giải tỏa do cơ duyên gắn kết của các con cháu thế hệ thứ hai Việt Nam và Mỹ và ông đã kể lại câu chuyện này… Tạp chí Da cam Việt Nam giới thiệu bài viết của ông, bài do Trần Quế Lương, Ban Đối ngoại Trung ương Hội dịch.

Tháng 9/1969 ngay khi tốt nghiệp trung học, tôi và một người bạn tình nguyện tham gia Quân đội Hoa Kỳ vì chúng tôi nghĩ đó sẽ là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời và chúng tôi cũng muốn chính mình tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi đã được đào tạo cơ bản và đào tạo kỹ năng cá nhân nâng cao (AIT), sau đó được đưa đến những nơi khác nhau để bắt đầu nghĩa vụ của mình. Tôi đến Việt Nam vào tháng 3/1970 và phục vụ 14 tháng trong Sư đoàn Bộ binh 4 đóng quân tại Tây Nguyên và được giải ngũ tháng 5/1971. Trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, tôi đã không có cơ hội để biết về con người hay văn hóa và lối sống của người Việt Nam mà chỉ biết mục tiêu duy nhất của những người lính chúng tôi là bảo vệ chính mình và giúp nhau để trở về nhà an toàn với gia đình mình.

Ông David Brown (hàng đầu thứ 6 từ phải sang) thăm Trung ương Hội Nạn nhân CĐDC/dioxin Việt Nam

Tôi không thể chuẩn bị gì cho những trải nghiệm mà tôi có được trong chiến tranh. Sau một trận đấu súng dữ dội kéo dài suốt cả ngày lẫn đêm, chúng tôi đã có người thương vong và tôi đã bắt gặp thi thể của một người lính trẻ Việt Nam có thư nhà và ảnh gia đình trong túi. Tôi nhận ra có một cái gì đấy cũng giống như người Việt Nam ở bản thân mình. Điều đó đã dễ dàng làm cho tôi mềm lòng. Sau đó tôi bắt đầu hiểu rõ hơn về người Việt Nam họ đơn giản chỉ là đấu tranh cho sự tự do để bảo vệ tổ quốc và để không bị can thiệp từ bên ngoài.

Những năm sau khi trở về quê hương, tôi tốt nghiệp cao đẳng, lập gia đình và chăm lo cho gia đình. Trong suốt thời gian đó, tôi tiếp tục ôn lại trải nghiệm của mình ở Việt Nam và hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh Mỹ-Việt. Trong khi đó, sau chiến tranh, cuối cùng Việt Nam được thống nhất đất nước giành lại độc lập (quyền tự trị).

Vài năm trước, cháu gái tôi đã gặp Thanh, chàng sinh viên Việt Nam từ TP Hồ Chí Minh sang học tại trường Đại học Brigham Young (BYU) bang Utah. Cậu ta là học sinh giao lưu ở Mỹ khi còn học trung học và được tiếp tục học đại học ở Mỹ. Chúng tôi rất thích Thanh và rất ấn tượng với trí thông minh, tính cách tốt của cậu ấy. Cháu gái tôi và Thanh kết hôn, sau đó chuyển sang TP Hồ Chí Minh để sinh sống.

Ngay sau khi con gái kết hôn với Thanh, vợ chồng em trai tôi tình nguyện cho An, học sinh giao lưu trung học đến từ Hà Nội, sống cùng 1 năm để hiểu biết hơn văn hóa đất nước con rể họ. Trong thời gian này, tôi đã quen với An và biết thêm về gia đình cô ấy. Tôi bắt đầu nghĩ đến khả năng quay lại Việt Nam để khám phá những khía cạnh của văn hóa và con người Việt Nam mà tôi đã bỏ lỡ chưa khám phá được trong thời gian chiến tranh. Thêm vào đó vợ chồng em trai tôi đã đến thăm Thanh và gia đình cậu ta ở Thành phố Hồ Chí Minh, khi trở về, họ đã chia sẻ kinh nghiệm với chúng tôi, điều này làm tôi tăng thêm ý muốn quay lại Việt Nam.

Sau khi nghe em tôi kể lại kinh nghiệm của mình, tôi nhận ra rằng vì tôi có người thân sống ở TP Hồ Chí Minh và cũng có thể hy vọng được gặp gia đình của An ở Hà Nội, nên đây sẽ là thời điểm tốt để tham quan Việt Nam, tìm hiểu thêm về người Việt Nam và văn hóa của họ từ một góc nhìn khác với những gì tôi trải qua 45 năm trước. Vợ tôi và tôi bắt đầu lên kế hoạch.

Chúng tôi đã đặt lịch thăm Việt Nam trong ba tuần gần cuối tháng 12/2015 và đầu tháng 1/2016. Hành trình của chúng tôi bao gồm thăm Thanh và gia đình ở TP Hồ Chí Minh, sau đó là Hội An, Hà Nội, Sa Pa, Vịnh Hạ Long, Phú Quốc và sau đó quay lại thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian chúng tôi ở Hà Nội, chúng tôi rất thích một tour du lịch trong thành phố với cha của An và sau đó họ mời chúng tôi ăn tối tại nhà. Tất cả, chúng tôi được trải nghiệm tất cả, từ sự hiếu khách của người Việt Nam, đến phong cảnh đẹp và nhiều sắc thái khác nhau của văn hóa Việt Nam. Trước chuyến đi, tôi lo lắng không biết người Việt Nam sẽ nhìn nhận một cựu chiến binh chiến tranh của Mỹ như tôi thế nào, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra tất cả người Việt Nam đều là những người khoan dung, hòa bình, tốt bụng và khiêm nhường. Tôi cảm thấy được chào đón và an toàn, Chính điều này làm tôi cảm thấy như mình được chữa lành vết thương vậy.

Khi đến thăm cháu gái tôi và Thanh ở TP Hồ Chí Minh, chúng tôi đã gặp gỡ và làm quen với gia đình Thanh. Tôi biết được cha của Thanh là bộ đội (miền Bắc Việt Nam) chiến đấu tại cùng thời điểm và nơi tôi đã tham chiến 45 năm về trước. Trong chuyến thăm của chúng tôi, ông ấy đã chỉ cho tôi những vết sẹo trên chân mình từ những lần bị thương trong chiến đấu. Mặc dù trong chiến tranh chúng tôi đã chiến đấu từ hai phía đối lập nhưng câu chuyện của chúng tôi cùng là những người lính đã tạo ra sự liên kết chung và chúng tôi trở thành bạn bè. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy và có cùng suy nghĩ như nhau đây đúng là sự hàn gắn. Cứ như thể cả hai chúng tôi cùng trút được một gánh nặng trên lưng mình. Sau đó, chúng tôi bắt tay nhau, để cho Thanh chụp hình. Sau này Thanh mới cho chúng tôi biết là cha mình chưa bao giờ đề cập đến những trải nghiệm chiến tranh trước đây của ông cả, và cậu ta nhận thấy sự thay đổi tích cực từ vẻ ngoài của ông sau lần gặp với chúng tôi.

Năm sau đó, tôi trở lại Việt Nam cùng con trai cả của mình, Clayton, là giáo sư về lịch sử châu Á của Trường Đại học bang Utah. Cậu ấy có một môn giảng về Chiến tranh Việt Nam-Mỹ và muốn đưa các em sinh viên đến Việt Nam vào năm tiếp đó để thực hiện chương trình ngoại khóa. Kế hoạch đã được thực hiện cho các sinh viên đến thăm viện bảo tàng, các địa điểm có liên quan đến chiến tranh, và để biết về người Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Clayton và tôi đã làm việc với VAVA, VVAF và USAID. Chúng tôi đã được biết rất nhiều về tổ chức của họ và muốn các sinh viên cũng có cùng trải nghiệm như thế.

Tháng 5 năm 2018, Trường Đại học Utah đã hợp tác với Youthlinc (là tổ chức phi lợi nhuận liên quan đến tình nguyện viên trẻ đang làm trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ và hỗ trợ cho các quốc gia trên toàn thế giới) để đưa sinh viên đến Việt Nam tham quan và tham gia phục vụ. Đến nơi, chúng tôi đã gặp Lãnh đạo Hội Nạn nhân CĐDC/dioxin Việt Nam (VAVA) ở Hà Nội để tìm hiểu về tổ chức của họ và những gì họ đang làm để đối phó với những tác động khủng khiếp của chất da cam/dioxin; sự chăm sóc, hỗ trợ cho các nạn nhân. Chúng tôi đã có một cuộc thảo luận với các nhân viên của Hội về những gì chúng tôi là sinh viên và du khách có thể làm để giúp đỡ trong vấn đề này.

Tiếp theo, chúng tôi đã đến thăm USAID tại Hà Nội để tìm hiểu xem Hoa Kỳ đang làm gì để giúp Việt Nam và người dân của họ. Sau đó chúng tôi thực hiện 5 ngày phục vụ ở Trung tâm Youthlinc và SJ Việt Nam, cung cấp vật tư (bao gồm máy may), cải tạo khung giường, xây tường bảo vệ và dạy các lớp học sơ cứu, chăm sóc cá nhân, nghệ thuật và thủ công, và các lĩnh vực khác tự hỗ trợ bản thân tại trường học dành cho trẻ em và người lớn khuyết tật ở khu vực Hạ Long, trong đó có một phụ nữ bị ảnh hưởng do chất độc da cam. Chúng tôi cũng đến thăm các gia đình trong làng. Dự án đã giúp chúng tôi có được mối quan hệ tốt hơn với mọi người và hiểu rõ hơn về nhu cầu của họ.

Tóm lại, tôi cảm thấy tất cả những trải nghiệm này đã giúp xây dựng cầu nối giữa Việt Nam và Mỹ. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ cùng nhau làm việc để có thêm sự tôn trọng, hỗ trợ và chăm sóc lẫn nhau trong tương lai. Tôi đã yêu người dân Việt Nam và đất nước của các bạn mất rồi. Tôi cảm thấy rằng tôi đã đi được “trọn một vòng” trong sự trải nghiệm của mình với Việt Nam, điểm xuất phát là để đi chiến đấu nhưng nhiều thập kỷ sau quay trở lại để phát triển tình hữu nghị dài lâu.