Thứ tư, 17/04/2019 | 20:01

Điều tra sức khỏe, chăm sóc, hỗ trợ y tế đối với nạn nhân phơi nhiễm chất da cam/dioxin Việt Nam

LTS: Ngày 14/12/2018, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh ở Việt Nam (701) phối hợp với Học viện Quân y/BQP tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về khắc phục hậu quả chất da cam/dioxin đối với con người và môi trường. Tạp chí Da cam Việt Nam xin giới thiệu bài tham luận của Học viện Quân y để bạn đọc tham khảo.

I. Tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam

Chất độc da cam/dioxin để lại ô nhiễm nặng nề cho môi trường và con người

Từ năm 1961 đến năm 1971, Mỹ sử dụng trên 80 triệu lít chất độc hóa học xuống ¼ diện tích Miền nam Việt Nam. Các chất diệt cỏ được sử dụng trên diện tích xấp xỉ 10 - 12% diện tích của miền Nam Việt Nam. Khoảng 65% lượng chất diệt cỏ được sử dụng giữa năm 1965 và 1970 là chất da cam (agent orange). Trong quá trình sản xuất chất da cam, một sản phẩm không mong muốn là đồng đẳng TCDD được tạo thành. Đây là một đồng đẳng độc nhất trong nhóm các đồng đẳng dioxin.

Trong thời gian từ năm 1993 tới nay, đã có nhiều nghiên cứu khảo sát nồng độ dioxin trong môi trường ở miền Nam. Các nghiên cứu được tiến hành tại nhiều tỉnh thành từ Quảng Trị đến Cà Mau. Các sân bay quân sự cũ của Mỹ cũng được khảo sát đánh giá ô nhiễm dioxin, bao gồm các sân bay ở Huế, Gia Lai, An Giang, TP Hồ Chí Minh, đặc biệt 3 sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa, và Phù Cát - nơi chất da cam được lưu trữ, tải nạp, vẫn là điểm nóng ô nhiễm với nồng độ dioxin trong mẫu đất, bùn và loài thủy sinh ở mức rất cao. Trong các chiến dịch phun rải chất diệt cỏ, những sân bay này là nơi chứa, trung chuyển, tải nạp hóa chất. Sau mỗi đợt phun rải, các phương tiện được thau rửa tại sân bay dẫn đến tình trạng lắng đọng dioxin trong đất và chảy tràn xuống các hồ nước bên trong và xung quanh sân bay. Sau chiến tranh, lượng hóa chất diệt cỏ tồn dư được xử lý và hủy bỏ ngay tại sân bay (chiến dịch Pacer Ivy), dẫn đến tình trạng ô nhiễm dioxin càng trầm trọng và kéo dài. Dioxin trong sân bay phát tán ra môi trường xung quanh, đi vào chuỗi thức ăn và xâm nhập vào cơ thể con người. Các nghiên cứu chỉ ra nồng độ dioxin trong cơ thể tỷ lệ thuận với thời gian sinh sống tại khu vực ô nhiễm. Điều đó gây ra mối lo ngại về nguy cơ phơi nhiễm dioxin cho người dân sinh sống quanh sân bay và gây ra những tác động có hại đến sức khỏe. 

II. MỨC ĐỘ PHƠI NHIỄM DIOXIN CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

2.1. Nồng độ dioxin trong máu

Theo khảo sát từ năm 2006 - 2011 của Tổ chức Hatfield, nhóm có nguy cơ phơi nhiễm cao là đối tượng khai thác và sử dụng nguồn thực phẩm từ thủy sản, vật nuôi được nuôi trồng tại khu vực sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa. Các đối tượng này có nồng độ dioxin trong máu rất cao (mẫu có nồng độ cao nhất 1.970 ppt, gấp hàng nghìn lần so với ngưỡng nền). Theo nghiên cứu từ năm 2007 của GS Nishijo, GS Kido và CS, những người dân sinh sống quanh khu vực sân bay trên là đối tượng có nguy cơ, với nồng độ TCDD cao gấp từ 2 - 5 lần so với nồng độ của người dân sinh sống khu vực không bị phun rải.

2.2. Nồng độ dioxin trong sữa mẹ

Dioxin tích tụ trong sữa mẹ và gây ra tình trạng phơi nhiễm dioxin ở trẻ nhỏ thông qua con đường bú sữa mẹ ở những tháng đầu đời. Tại Việt Nam, nồng độ dioxin trong sữa mẹ được bắt đầu khảo sát từ năm 1970, đây cũng là những mẫu sinh phẩm từ người đầu tiên trên thế giới được định lượng dioxin. Từ năm 2002 đến nay, đã có nhiều nghiên cứu dịch tễ học đánh giá nồng độ dioxin trong mẫu sữa mẹ thực hiện trên rất nhiều địa bàn trải dài từ Bắc vào Nam và ở cả 3 khu vực gồm điểm nóng ô nhiễm dioxin; khu vực bị phun rải và khu vực không bị phun rải. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại khu vực bị phun rải (Quảng Trị), nồng độ dioxin trong sữa mẹ cao hơn so với vùng không bị phun rải. Tuy nhiên, tại các điểm nóng ô nhiễm dioxin như sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát, nồng độ dioxin trong sữa mẹ cao hơn 3-4 lần so với nồng độ dioxin trong sữa bà mẹ sống ở nơi không bị phun rải. Trong 3 điểm nóng trên, nồng độ TCDD cao nhất ở Biên Hòa, tiếp theo là Đà Nẵng và Phù Cát.

III. ẢNH HƯỞNG CỦA DIOXIN LÊN SỨC KHỎE CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM

3.1. Ảnh hưởng của dioxin lên một số bệnh tật

Tác động của dioxin lên sức khỏe con người không mang tính đặc hiệu, mà có thể ảnh hưởng tới nhiều hệ cơ quan trong cơ thể: hệ miễn dịch, hệ nội tiết, hệ thần kinh, sức khỏe tâm thần, sức khỏe sinh sản, rối loạn chuyển hóa và các bệnh lý ung thư.

Từ năm 1994, Viện Y học Hoa Kỳ đã tổng hợp, phân tích tất cả nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng dioxin lên sức khỏe con người và đưa ra báo cáo tổng hợp về các bệnh liên quan đến phơi nhiễm dioxin với mức độ khác nhau. Báo cáo được cập nhật 2 năm một lần dựa trên những kết quả nghiên cứu mới. Hiện nay, các nhóm bệnh có mối liên quan với dioxin bao gồm:

- Mức 1: bệnh có bằng chứng chính xác về mối liên quan (tổng số có 5 bệnh, trong đó 4 bệnh ung thư tổ chức mềm).

- Mức 2: bệnh có bằng chứng mang tính chất gợi ý có liên quan (tổng số có 7 bệnh, trong đó có 3 bệnh ung thư).

- Mức 3: bệnh có bằng chứng không đầy đủ để xác định có liên quan hay không (tổng số 26 bệnh, trong đó 11 bệnh ung thư).

- Mức 4: bệnh có bằng chứng hạn chế hay gợi ý không liên quan (gồm 2 nhóm bệnh ung thư).

Tại Việt Nam, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ngày 20 tháng 02 năm 2008 về danh mục 17 bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học/dioxin, gồm: Ung thư phần mềm; u lympho không Hodgkin, u lympho Hodgkin, ung thư phế quản - phổi, ung thư khí quản, ung thư thanh quản, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư gan nguyên phát, bệnh đa u tủy xương ác tính, bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính, tật gai sống chẻ đôi, bệnh trứng cá do clo, bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh Porphyrin xuất hiện chậm, các bất thường sinh sản, các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm chất độc hóa học/dioxin), rối loạn tâm thần.

3.2. Ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ em

Trẻ em là đối tượng nhạy cảm nhất trước các tác động của chất độc môi trường, trong đó có dioxin. Đặc biệt trong giai đoạn bào thai, những tác động đó có thể tồn tại và kéo dài nhiều năm sau khi đứa trẻ được sinh ra.

Tại Việt Nam, từ năm 2008, dưới sự hợp tác giữa Đại học Y khoa Kanazawa, Nhật Bản và Học viện Quân y, GS Muneko Nishijo đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của dioxin lên trẻ em sinh sống quanh sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa. Nghiên cứu tiến hành qua nhiều năm theo tiến trình phát triển của trẻ nhỏ: từ khi sinh ra, thời điểm 1 tháng và 4 tháng tuổi, thời điểm 1 năm, 3 năm, 5 năm và 8 năm. Tại các thời điểm khảo sát, phơi nhiễm dioxin ở trẻ em ảnh hưởng đến phát triển thể lực và thần kinh của trẻ như: khả năng nhận thức, ngôn ngữ, vận động, hành vi giao tiếp xã hội, xu hướng tự kỷ và khả năng học tập ở cấp tiểu học. Kết quả nghiên cứu đã được đăng tải trên các tạp chí uy tín trên thế giới.

3.3. Ảnh hưởng lên hệ nội tiết

Từ năm 2007, GS Kido và CS thuộc Đại học Kanazawa, Nhật Bản phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội đã triển khai một nghiên cứu đánh giá tác động của phơi nhiễm dioxin lên biến đổi hormon ở các cặp bà mẹ - em bé và nam giới sinh sống quanh sân bay Phù Cát và Biên Hòa. Kết quả cho thấy có mối liên quan giữa nồng độ dioxin với hormon tuyến thượng thận, như gây rối loạn đến androgen thượng thận, ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp hormon steroid.

Năm 2014, tác giả Phạm Thế Tài cùng cộng sự tại Học viện Quân y đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của phơi nhiễm dioxin lên nồng độ hormon trong cơ thể của đối tượng đang sinh sống tại gần sân bay Biên Hòa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phơi nhiễm dioxin có xu hướng làm giảm nồng độ testosteron và tăng nồng độ prolactin ở nam giới.

3.4. Ảnh hưởng lên sức khỏe sinh sản, dị tật bẩm sinh

Dị tật bẩm sinh và tai biến sinh sản là những vấn đề phức tạp nhất khi bàn về hậu quả của chất da cam ở người, đồng thời là chủ đề gây rất nhiều tranh cãi. Dị tật bẩm sinh do nhiều yếu tố khác nhau gây ra, trong nhiều trường hợp, bác sĩ và các nhà nghiên cứu y khoa không thể xác định được nguyên nhân cụ thể. Có rất nhiều loại hình và mức độ dị tật bẩm sinh, gây ra gánh nặng về thể chất, tâm lý và kinh tế cho những cá nhân bị ảnh hưởng, cho gia đình họ cũng như cho xã hội. 

Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên về phơi nhiễm dioxin và dị tật bẩm sinh ở Việt Nam. Trong giai đoạn từ 1965 - 1967, bác sĩ Phượng đã thu thập dữ liệu về tai biến sinh sản và dị tật bẩm sinh tại Bến Tre và nhận thấy, tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở địa bàn khảo sát tại Bến Tre cao gấp 4-5 lần so với số lượng dị tật bẩm sinh trên địa bàn đối chứng là TP Hồ Chí Minh. Trong một nghiên cứu tiếp theo, tác giả phát hiện thấy những phụ nữ sinh vào những năm 1965-1966 - thời kỳ đỉnh điểm của chiến dịch phun rải chất diệt cỏ tại miền Nam, có tỷ lệ tai biến sinh sản và con bị dị tật cao hơn nhiều so với những phụ nữ sinh năm 1955-1956 (trước chiến dịch phun rải chất diệt cỏ).

Tại Học viện Quân y, từ 1996 đến 1999, tác giả Nguyễn Văn Nguyên và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu về dị tật bẩm sinh ở các địa bàn dân cư xung quanh những điểm nóng dioxin tại Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát, so sánh với một địa bàn đối chứng là Hà Đông. Năm 2005, nhóm Lê Bách Quang và Đoàn Huy Hậu đã khảo sát 28.817 gia đình cựu chiến binh có tiền sử phơi nhiễm chất da cam, so sánh họ với 19.076 gia đình cựu chiến binh không có tiền sử phơi nhiễm chất da cam. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa tỷ lệ trẻ sinh ra có dị tật bẩm sinh là con của cựu chiến binh từng bị phơi nhiễm chất da cam so với con của người không bị phơi nhiễm.

3.5. Ảnh hưởng của dioxin lên hệ gen

Những thập kỷ gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử và công nghệ gen, các nghiên cứu khoa học đã và đang làm sáng tỏ được nhiều vấn đề trong cơ chế phân tử của tác động tức thời (trực tiếp) cũng như hậu quả lâu dài tiếp theo (gián tiếp) dioxin với cấu trúc và chức năng gen và sản phẩm của chúng (protein/enzyme). Có thể phân biệt các tác động này theo 2 nhóm: rối loạn về chức năng gen và tác động đột biến (gene-genotoxicity).

Nhóm nghiên cứu gồm Nguyễn Đăng Tôn, Nông Văn Hải, Viện Nghiên cứu hệ Gen, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiến hành nghiên cứu trên 11 gia đình cựu chiến binh bao gồm cả vợ/chồng và con, trong đó cựu chiến binh là người đã tham gia trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước tại các chiến trường bị phun rải chất da cam, trong thời gian từ năm 1962 - 1971, hoặc cựu chiến binh sống tại các khu vực bị nhiễm chất độc da cam/dioxin. 10/11 cựu chiến binh có nồng độ dioxin trong máu từ trung bình đến cao.

3.6. Tổn thương tâm lý ở người nhà nạn nhân

Hầu hết nạn nhân dioxin đều có con bị phơi nhiễm chất độc hoá học. Trẻ em bị nhiễm chất độc hoá học mắc gần như tất cả chứng rối nhiễu tâm lý ở các mức độ nặng khác nhau. Đối với vợ/chồng nạn nhân, gánh nặng chăm sóc đã ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý họ. Trong gia đình, người chăm sóc chính là người chịu nhiều căng thẳng tâm lý và có nhiều nguy cơ bị sang chấn tâm lý, trầm cảm và vấn đề sức khỏe khác. Họ phải đối mặt với rất nhiều trở ngại, vừa phải chăm sóc nạn nhân vừa phải cân bằng các yêu cầu khác như nuôi nấng, chăm sóc con cái và các mối quan hệ khác… Đặc biệt, các gia đình sinh ra những đứa trẻ dị tật bẩm sinh do chất độc da cam, chúng không có điều kiện học tập và sinh hoạt bình thường, thậm chí khó khăn trong việc hoà nhập với cộng đồng. Mặt khác, chúng đã trở thành nỗi buồn phiền, đau khổ và gánh nặng cho gia đình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục...

(Còn tiếp...)

Học viện Quân y