Thứ sáu, 11/10/2019 | 14:17

Ô nhiễm chất da cam/dioxin tại các điểm nóng và giải pháp giảm thiểu tác hại trong vùng lan tỏa

I. Giới thiệu:
Tháng 4/1975, chiến tranh kết thúc, nhưng Việt Nam phải chịu hậu quả ô nhiễm môi trường bởi các tác nhân hóa học nặng nề chưa từng có trong lịch sử. Với khoảng gần 80 triệu lít chất diệt cỏ chứa dioxin do Mỹ sử dụng từ 1961 đến 1971 đã gây nên thảm họa ô nhiễm môi trường với quy mô lớn nhất, độc hại nhất và lâu dài nhất.
Căn cứ vào nguyên nhân và thời điểm phơi nhiễm, người chịu tác động có thể chia ra làm hai nhóm:
Nhóm I: Những người chịu tác động trực tiếp trong thời kỳ phun rải. Họ sinh sống trong vùng phun rải và vùng bị ảnh hưởng. Các nghiên cứu theo những tiêu chí khác nhau đã đưa ra ước lượng số người bị phơi nhiễm khác nhau. Một trong những số liệu có tính thuyết phục được nhiều nghiên cứu trích dẫn là của Stellman J.M (2003), theo đó, số lượng người bị phơi nhiễm khoảng 2,1 - 4,8 triệu người, trong đó có khoảng 3 triệu người có nguy cơ cao.
Nhóm II: Những người sống trong vùng ô nhiễm chất da cam/dioxin tại các căn cứ quân sự cũ của Mỹ, nơi lưu trữ, tập kết, pha chế chất diệt cỏ trong chiến tranh được gọi là các “điểm nóng”. Tác hại ô nhiễm tại các điểm nóng vào trước những năm 1990 gần như chưa được nghiên cứu. Đến cuối những năm 1990, Ủy ban 10-80 và Bộ Quốc phòng đã có những nghiên cứu đầu tiên và kết quả mới được công bố vào sau những năm 2000. Các nghiên cứu đều khẳng định: Tác hại của ô nhiễm tồn lưu chất da cam/dioxin sau chiến tranh tại các điểm nóng là vô cùng nghiêm trọng đối với môi trường, sinh thái và con người. Phơi nhiễm với dioxin từ môi trường, đặc biệt qua chuỗi thức ăn là nguyên nhân trực tiếp phát sinh người chịu tác động mới sau chiến tranh. Các nghiên cứu còn chỉ ra khoảng 10% con đường phơi nhiễm xâm nhập qua tiếp xúc, còn lại khoảng 90% dioxin trong cơ thể con người là qua đường ăn uống. Nhiều công trình nghiên cứu, điều tra lâm sàng, dịch tễ tại các điểm nóng cho thấy nồng độ dioxin trong máu, mỡ, sữa mẹ và các di chứng bệnh tật liên quan đến dioxin cao hơn nhiều so với các vùng đối chứng không bị tác hại ô nhiễm dioxin.

Các nghiên cứu triển khai công nghệ xử lý khắc phục ô nhiễm chất da cam/dioxin tại các điểm nóng cũng như các nghiên cứu can thiệp y tế công cộng nhằm giảm tác động phơi nhiễm cho cộng đồng xung quanh điểm nóng được thực hiện chủ yếu sau những năm 2010. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu, song đến nay vẫn còn nhiều nội dung khoa học cần quan tâm giải quyết. Trong đó, việc phân tích, đánh giá đúng hiện trạng, nguy cơ tiềm ẩn tác động môi trường, đề xuất yêu cầu tẩy độc, các giải pháp giảm thiểu tác hại… có ý nghĩa quan trọng, là biện pháp tích cực và chủ động ngăn chặn không để phát sinh người chịu tác động mới sau chiến tranh.
II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường được thực hiện tại 3 điểm nóng là sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên Hòa (Đồng Nai) và sân bay Phù Cát (Bình Định), theo phương pháp:
- Khảo sát lấy mẫu hiện trường theo phương pháp tổng hợp đa điểm (MIS/Multi-increment sampling).
- Quy trình phân tích thực hiện theo quy định US EPA-8280b đối với 17 đồng loại độc dioxin/furan và tham khảo tiêu chuẩn phương pháp US EPA-1613B trên thiết bị GC/MS và HRGC/HRMS.
- Tiêu chuẩn so sánh về ngưỡng dioxin trong đất và trầm tích cần phải xử lý là 1.000ppt và 150ppt theo TCVN 8183: 2009 và Quy chuẩn về ngưỡng dioxin giới hạn cho phép trong đất theo mục đích sử dụng đất QCVN 45: 2012/BTNMT (TEQ được tính theo giá trị hệ số độc tương đương TEF do WHO ban hành năm 2005.
Các phương pháp nghiên cứu đánh giá tác động sức khỏe môi trường gồm phỏng vấn trực tiếp và điều tra thống kê theo bảng câu hỏi; đánh giá, so sánh và hồi cứu; đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường theo P/CCRARM 1997 và NRC 1983.
3. Kết quả nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm môi trường tại ba sân bay: Đà Nẵng, Biên Hòa, Phù Cát:

3. Kết quả nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm môi trường tại ba sân bay: Đà Nẵng, Biên Hòa, Phù Cát:
Tại sân bay Đà Nẵng, đã xử lý xong khu đất và trầm tích ô nhiễm dioxin (2018), hoàn trả khoảng 32,4 ha mặt bằng sạch; đã thu gom di chuyển khoảng 200.000m3 đất, bùn ô nhiễm, trong đó phân hủy triệt để khoảng 90.000 m3 đất ô nhiễm dioxin nặng và chôn lấp cô lập tại chỗ khoảng 60.000 m3 đất ô nhiễm khác ở mức thấp hơn ngưỡng cần xử lý.
Tại sân bay Biên Hòa, hiện trạng ô nhiễm rất phức tạp. Phần lớn nước mặt rửa trôi khu vực ô nhiễm đều đổ vào sông Đồng Nai và tích tụ tại các hồ, ao trong khu vực. Các nghiên cứu khảo sát đánh giá mức độ ô nhiễm và nhiều công trình, công nghệ thử nghiệm đã được triển khai sau những năm 2010. Kết quả bước đầu có tác dụng hạn chế tác hại, ngăn chặn lan tỏa tạm thời các khu vực ô nhiễm. Đến nay, trong khu vực còn hai khu chôn lấp cô lập thu gom được khoảng 150.000m3 đất ô nhiễm phải xử lý và một khu cách ly khoảng 10.000m2 đất ô nhiễm nặng bằng tường rào, các khu ô nhiễm khác đang còn phân tán rộng với độ sâu khác nhau mới được đánh dấu cảnh báo, chưa được thu gom. Kết quả phân tích so với ngưỡng cần xử lý sơ bộ cho thấy lượng đất và trầm tích ô nhiễm nặng cần xử lý lên khoảng trên 500.000m3.
Tại sân bay Phù Cát, các kết quả nghiên cứu được đánh giá là có mức độ ô nhiễm thấp hơn so với sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa. Năm 2012, GEF/UNDP đã thực hiên công trình chôn lấp cô lập tại chỗ 7.500m3 đất và trầm tích ô nhiễm nặng dioxin. Mặc dù chưa được xử lý triệt để, song về cơ bản đã hạn chế được tác hại lan tỏa ảnh hưởng trong khu vực.
Từ các hiện trạng trên, vấn đề ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng đã đặt ra những thách thức, nguy cơ tiềm ẩn cần tẩy độc giảm thiểu tác hại về môi trường. Cụ thể:
Ở sân bay Đà Nẵng, mặc dù đất và trầm tích ô nhiễm dioxin đã được xử lý, song tác động về môi trường trong khu vực cũng phát sinh một số vấn đề. Các tồn đọng ô nhiễm thứ cấp vật liệu làm lò, khu chôn lấp đất ô nhiễm dioxin còn cao hơn tiêu chuẩn môi trường chưa được xử lý triệt để; các điểm và tần suất quan trắc còn mỏng và thưa, tác động của sự cố môi trường trong quá trình xử lý chưa được đánh giá toàn diện. Ngoài ra, việc tiêu thụ thực phẩm được nuôi trồng, đánh bắt xung quanh sân bay vẫn có nguy cơ phơi nhiễm dioxin cao theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới. Để giảm thiểu rủi ro, cần tiếp tục các hoạt động quan trắc cảnh báo mang tính chất đặc thù đối với chất thải nguy hại là dioxin và các chất ô nhiễm liên quan. Các nghiên cứu tiếp theo về xử lý triệt để các nguồn phát thải ô nhiễm thứ cấp tồn đọng cũng cần được quan tâm giải quyết.
Ở sân bay Biên Hòa, mặc dù các nghiên cứu tổng thể xử lý ô nhiễm đã được đặt ra, song kết quả mới chỉ là bước đầu. Cần thiết phải mở rộng nghiên cứu có tư vấn của các nhà khoa học, công nghệ và quản lý chuyên ngành một cách đồng bộ. Trước mắt tập trung cho hoạt động y tế chăm sóc đối tượng có nguy cơ cao trong vùng phơi nhiễm, cũng như các hoạt động tuyên truyền dự phòng chống phơi nhiễm.
Ở sân bay Phù Cát, việc xử lý triệt để đất ô nhiễm tại khu chôn lấp tạm thời là cần thiết trong xây dựng sân bay theo quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Song, trong thời gian chưa được xử lý cần xác định hướng lan tỏa dioxin để có những khuyến cáo cần thiết cho cộng đồng. Ngoài ra, các chương trình trợ giúp y tế trong khu vực cũng cần được đầu tư thường xuyên để giảm thiểu phơi nhiễm tác động đến sức khoẻ trong khu vực lan tỏa.
4. Kết quả nghiên cứu, đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường và các giải pháp giảm thiểu tác hại ô nhiễm chất da cam/dioxin tồn lưu tại các điểm nóng:
* Kết quả khảo sát mức độ tiêu thụ thực phẩm nhiễm dioxin khu vực dân cư xung quanh sân bay Biên Hòa (tương tự như sân bay Đà Nẵng):

Các số liệu cho thấy về nguy cơ sức khỏe môi trường phơi nhiễm dioxin đối với các đối tượng sống ở khu vực xung quanh sân bay Biên Hoà và Đà Nẵng có mức tiêu thụ dioxin hàng ngày lần lượt là 60,4-102,8 pg TEQ/kg cân nặng cơ thể/ngày và 27-148 pg TEQ/kg cân nặng cơ thể/ngày, vượt nhiều lần mức tiêu thụ hàng ngày chịu được (TDI) theo khuyến cáo của WHO (1-4 pg/kg cân nặng cơ thể/ngày) nếu họ tiêu thụ thực phẩm nguy cơ cao được nuôi trồng, đánh bắt ở trong và xung quanh sân bay…
Từ các nghiên cứu về nồng độ dioxin trong môi trường và thực phẩm, cho thấy người dân sống xung quanh các điểm nóng dioxin có nguy cơ bị phơi nhiễm với dioxin hàng ngày. Hội Y tế công cộng (YTCC) đã triển khai Chương trình can thiệp YTCC gồm 3 nội dung: Tập huấn nâng cao kiến thức, năng lực dự phòng phơi nhiễm dioxin trong thực phẩm; thông tin - giáo dục - truyền thông và thực hành về dự phòng phơi nhiễm dioxin cho cộng đồng xung quanh sân bay Biên Hoà và sân bay Đà Nẵng, đặc biệt là người nội trợ trong gia đình; vận động xây dựng chính sách, quy định nhằm giảm thiểu phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm cho người dân. Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy trẻ sơ sinh có nguy cơ cao bị phơi nhiễm dioxin trong sữa mẹ nếu người mẹ sinh sống lâu trong vùng nóng. Do đó cần thiết có các hoạt động tư vấn cho phụ nữ đang mang thai và phụ nữ cho con bú về nguy cơ này.
Vai trò của công tác đánh giá nguy cơ sức khoẻ môi trường là rất quan trọng tại các điểm nóng. Việc điều tra, xác định số người có nguy cơ cao bị phơi nhiễm trong vùng cũng là một việc rất cần thiết cho các hành động giảm thiểu tác động của dioxin, không để phát sinh người bị phơi nhiễm mới.
Do lịch sử để lại, mặc dù không mong muốn, Việt Nam vẫn đang là một hiện trường khổng lồ cho nghiên cứu khoa học, thử nghiệm công nghệ với nhiều loại đối tượng bị phơi nhiễm dioxin, với nhiều loại mẫu bị ô nhiễm dioxin chịu tác hại ở mức độ khác nhau đối với môi trường, sinh thái và con người. Trong đó, con người là đối tượng đầu tiên và cũng là đối tượng cuối cùng trong chuỗi tác động của ô nhiễm do dioxin. Thành công trong nghiên cứu khắc phục tác hại ô nhiễm dioxin có nguồn gốc chiến tranh ở Việt Nam sẽ là cơ sở thiết thực, bổ ích cho nhân loại tiến bộ hành động vì cộng đồng ứng phó với phát thải dioxin, các chất tương tự dioxin và các chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) trong công nghiệp.

TS Trần Ngọc Tâm & BS CKI Hoàng Đức Hậu