Thứ ba, 11/06/2019 | 07:40

Tẩy độc Dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam, hiện trạng và giải pháp giảm thiểu tác hại tại các điểm nóng

Bài 1: Hiện trạng, nguy cơ tiềm ẩn tác hại ô nhiễm CĐDC/Dioxin tại các điểm nóng

  1. Đặt vấn đề

Xử lý CĐDC/Dioxin tại sân bay Đà Nẵng

Tháng 4/1975, sau khi chiến tranh kết thúc, bên cạnh việc hàn gắn hậu quả của một cuộc chiến tranh thông thường, Chính phủ và nhân dân Việt Nam còn phải đối mặt với việc giải quyết hậu quả của chiến tranh hóa học với quy mô lớn nhất, độc hại nhất và dài ngày nhất trong lịch sử chiến tranh: Khoảng gần 80 triệu lít chất diệt cỏ chứa dioxin và các loại hóa chất độc hại khác rải xuống ¼ diện tích miền Nam Việt Nam trong 10 năm chiến tranh (từ 1961 đến 1971).

Căn cứ vào nguyên nhân và thời điểm phơi nhiễm, có thể chia ra làm hai nhóm nạn nhân CĐDC như sau:

Nhóm I: Là những người chịu tác hại trực tiếp trong thời kỳ phun rải. Đó là những người sinh sống, chiến đấu, làm việc trong vùng bị phun rải và vùng ảnh hưởng.

Các nghiên cứu theo những tiêu chí khác nhau đã đưa ra các số ước lượng về nạn nhân khác nhau. Một trong những con số có tính thuyết phục được nhiều nghiên cứu trích dẫn là của Stellman J.M. (2003). Theo đó, số lượng người bị phơi nhiễm được tác giả ước tính khoảng 2,1 đến 4,8 triệu người, trong đó có khoảng 3 triệu người có nguy cơ tiềm ẩn là nạn nhân. Hiện nay, số nạn nhân nhóm này được phân bố trong cả nước, phần lớn đều tuổi cao, đời sống khó khăn do sức khỏe bị suy yếu với nhiều bệnh tật. Nguy hại hơn, một số đã để lại di chứng khuyết tật cho con, cháu và các thế hệ tiếp theo.

Nhóm II: Là những người sống trong vùng ô nhiễm chất da cam/dioxin tại các căn cứ quân sự cũ của Mỹ và đồng minh, nơi lưu trữ, tập kết, pha chế chất diệt cỏ phục vụ mục đích quân sự của Hoa Kỳ trong chiến tranh được gọi là “điểm nóng”. Tác hại ô nhiễm tại các vùng liên quan đến chất da cam/dioxin trong chiến tranh vào trước những năm 90 gần như không được chú ý. Việc nghiên cứu tác hại tại các vùng ô nhiễm tồn lưu mới được bắt đầu vào cuối những năm 90 chủ yếu do Ủy ban 10-80 và Bộ Quốc phòng Việt Nam tiến hành. Ngay trong thời kỳ này, Việt Nam đã chủ trương hợp tác và được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là với Hoa Kỳ.

Kết quả nghiên cứu phát hiện ra các “điểm nóng” được công bố vào sau những năm 2000 với các nghiên cứu chuyên sâu của nhiều tác giả và các tổ chức trong nước và quốc tế. Theo các nghiên cứu, tác hại của ô nhiễm tồn lưu chất da cam/dioxin sau chiến tranh tại các điểm nóng là vô cùng nghiêm trọng đối với môi trường, hệ sinh thái và con người.

Phơi nhiễm với dioxin từ môi trường, đặc biệt qua chuỗi thức ăn là nguyên nhân phát sinh trực tiếp nạn nhân mới sau chiến tranh ở Việt Nam. Các nghiên cứu còn chỉ ra khoảng 10% con đường phơi nhiễm phát thải qua tiếp xúc, còn lại khoảng 90% dioxin trong cơ thể con người là qua đường ăn uống. Nhiều công trình nghiên cứu đánh giá, điều tra lâm sàng, dịch tễ tại các khu tác động của ô nhiễm đã cho thấy nồng độ dioxin trong máu, mỡ, sữa mẹ và các di chứng bệnh tật liên quan đến dioxin cao hơn nhiều so với các vùng đối chứng không bị tác hại ô nhiễm dioxin.

Qua hoạt động thực tế cho thấy: Việc tẩy độc triệt để, phục hồi môi trường tại các điểm nóng cũng như các can thiệp y tế công cộng giảm nguy cơ phơi nhiễm cho cộng đồng sống xung quanh các điểm nóng có ý nghĩa quan trọng, là biện pháp tích cực và chủ động ngăn chặn không để phát sinh nạn nhân mới sau chiến tranh. Đó là nội dung chính trong báo cáo.

2. Hiện trạng, nguy cơ tiềm ẩn tác hại ô nhiễm CĐDC/dioxin tại các điểm nóng

Đến hết năm 2018, được sự hỗ trợ hợp tác, giúp đỡ của nhiều các nước và tổ chức trên thế giới, đặc biệt là của các tổ chức, các cá nhân, các nhà khoa học đến từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, việc khắc phục hậu quả ô nhiễm chất da cam/dioxin tại các điểm nóng đã đạt được những kết quả rất đáng trân trọng. Các đánh giá hiện trạng tại ba sân bay Đà Nẵng, Phù Cát (Bình Định), Biên Hòa (Đồng Nai), cụ thể như sau:

- Tại sân bay Đà Nẵng, trên cơ sở các số liệu khảo sát, đánh giá mức độ ô nhiễm, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), từ 2012 đến 2018, đã phối hợp thực hiện và hoàn thành Dự án xử lý khu đất và trần tích ô nhiễm dioxin với kinh phí khoảng trên 100 triệu USD và 60 tỷ VNĐ. Dự án đã hoàn trả khoảng 32,4 ha mặt bằng sạch cho việc mở rộng sân bay, góp phần phát triển kinh tế, xã hội trong khu vực. Kết quả đã phân hủy triệt để khoảng 90.000 m3 đất ô nhiễm dioxin nặng phải xử lý và chôn lấp cô lập tại chỗ khoảng 50.000 m3 đất ô nhiễm khác ở mức thấp hơn ngưỡng xử lý.

- Tại sân bay Biên Hòa, hiện trạng ô nhiễm còn rất phức tạp. Đặc biệt, phần lớn nước mặt rửa trôi khu vực ô nhiễm đều đổ vào sông Đồng Nai và tích tụ tại các hồ, ao trong khu vực dân sinh. Trong những năm qua, nhiều dự án khảo sát đánh giá mức độ ô nhiễm và nhiều công trình, công nghệ thử nghiệm của các nước đã được triển khai. Tuy nhiên, kết quả chưa được như mong đợi. Bước đầu, các hoạt động can thiệp mới chỉ hạn chế tác hại và ngăn chặn sự lan tỏa tạm thời chất ô nhiễm tại các điểm nóng. Đến nay, trong khu vực có hai khu chôn lấp cô lập (đã thu gom được khoảng 150.000m3 đất ô nhiễm phải xử lý) và một khu cách ly khoảng 10.000m2 đất ô nhiễm nặng bằng tường và rãnh thoát nước thô sơ có khả năng chống lan tỏa rất kém. Ngoài ra, các khu ô nhiễm khác đang còn phân tán rộng với độ sâu khác nhau, hiện mới chỉ được đánh dấu cảnh báo, mà chưa tiến hành thu gom.

Để chuẩn bị cho Dự án xử lý tổng thể, năm 2017-2018, Việt Nam và Hoa Kỳ đã phối hợp để triển khai các đánh giá môi trường. Kết quả sơ bộ cho thấy, lượng đất và trầm tích ô nhiễm nặng cần xử lý lên khoảng trên 500.000m3 (gấp hơn 3 lần so với sân bay Đà Nẵng). Dự án cũng mở rộng các đối tác và nghiên cứu lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo các tiêu chí như an toàn về môi trường, có tiến độ nhanh, khả thi và chi phí hợp lý.

Tại sân bay Phù Cát, các kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ô nhiễm chất da cam/dioxin thấp hơn so với ở sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa. Năm 2012, Quỹ Môi trường toàn cầu/Liên hợp quốc (GEF/UNDP) đã tài trợ Dự án chôn lấp, cô lập tại chỗ 7.500m3 đất và trầm tích bị ô nhiễm nặng dioxin. Mặc dù chưa được xử lý triệt để, song về cơ bản đã hạn chế được sự lan tỏa của chất gây ô nhiễm trong khu vực.

3. Những vấn đề cần quan tâm giải quyết

Từ các hiện trạng trên cho thấy, nhiều vấn đề về ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng cần được quan tâm. Ở sân bay Đà Nẵng, mặc dù đất và trầm tích ô nhiễm dioxin đã được xử lý, tuy nhiên, ô nhiễm thứ cấp từ vật liệu làm lò vẫn còn cao hơn tiêu chuẩn môi trường cho phép. Các điểm quan trắc còn ít và tần suất quan trắc sau Dự án chưa cao. Bên cạnh đó, tác động của sự cố môi trường trong quá trình xử lý chưa được đánh giá toàn diện (do việc kiểm soát, điều chỉnh các thông số kỹ thuật còn nhiều hạn chế). Ngoài ra, việc đánh giá các điểm được và chưa được về khoa học và công nghệ của Dự án cũng cần được quan tâm. Ví dụ, Dự án liên tục phải điều chỉnh tiến độ, vật tư, thiết bị kỹ thuật, công nghệ và tài chính so với dự kiến ban đầu; hoặc công nghệ và quy trình để chuyển một lượng lớn than hoạt tính chứa dioxin từ Việt Nam ra nước ngoài để xử lý cũng cần được xem xét cho phù hợp…

Từ những vấn đề liên quan đến việc xử lý chất da cam/dioxin ở sân bay Đà Nẵng cho thấy, cần điều chỉnh các quy trình và kỹ thuật để xử lý các chất ô nhiễm ở sân bay Biên Hòa và Phù Cát. Để giảm thiểu nguy cơ sức khỏe, Dự án cần tiếp tục các hoạt động quan trắc và cảnh báo mang tính chất đặc thù đối với dioxin và các chất ô nhiễm liên quan. Các hoạt động can thiệp cần được quan tâm, bao gồm truyền thông nguy cơ sức khoẻ môi trường, dự phòng phơi nhiễm với dioxin trong thực phẩm và môi trường, tư vấn tiền hôn nhân, chăm sóc sức khỏe tiền sinh sản, theo dõi ca bệnh để hạn chế thấp nhất nguy cơ dị tật bẩm sinh cho thế hệ tiếp theo, cũng như phát triển dịch vụ chăm sóc, phục hồi chức năng tại cộng đồng. Các nghiên cứu tiếp theo về xử lý triệt để các nguồn phát thải ô nhiễm thứ cấp tồn đọng cũng cần được quan tâm giải quyết trong thời gian gần nhất.

Tại sân bay Biên Hòa, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc xử lý ô nhiễm, song kết quả chưa tương xứng với yêu cầu cấp bách đặt ra. Thực tế đã phát sinh nhiều nạn nhân mới trong khu vực. Hội Nạn nhân CĐDC/dioxin Việt Nam nhất trí với hoạt động ưu tiên, trọng tâm của Chính phủ và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia nhằm xóa bỏ nhanh nhất điểm nóng ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa. Để phòng chống các rủi ro của Dự án, cần thiết phải có sự tham gia tư vấn của các nhà khoa học, công nghệ và quản lý chuyên ngành ngay từ khi hình thành Dự án. Trước mắt, các hoạt động y tế chăm sóc nạn nhân và các đối tượng có nguy cơ cao trong vùng phơi nhiễm, cũng như các hoạt động hỗ trợ nhân đạo từ thiện giúp đỡ nạn nhân vượt qua khó khăn trong cuộc sống, vươn lên hoà nhập cộng đồng, là trách nhiệm và cần thiết được ưu tiên của toàn thể xã hội.

Tại sân bay Phù Cát, việc nghiên cứu xử lý triệt để đất ô nhiễm tại khu chôn lấp là rất cần thiết trước khi tiến hành xây dựng sân bay theo quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Trong thời gian chưa được xử lý, việc quan trắc môi trường, xác định hướng lan tỏa dioxin cần phải được quan tâm để có những khuyến cáo cần thiết và kịp thời trong cộng đồng. Ngoài ra, các chương trình trợ giúp y tế đối với nhân dân trong khu vực bị ảnh hưởng cũng cần được đầu tư thường xuyên để giảm thiểu các nguy cơ phơi nhiễm và những ảnh hưởng sức khoẻ tiêu cực…

(còn tiếp)

TS Trần Ngọc Tâm & TS Trần Thị Tuyết Hạnh

Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin thành phố Hải Phòng: Tri ân những tấm lòng vàng và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì

Sáng 02/8/2019, Hội NNCĐDC/dioxin thành phố Hải Phòng đã tổ chức Hội nghị tri ân “những tấm lòng vàng” và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì. Dự Hội nghị có các đồng chí: Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh - Chủ tịch Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam; đồng chí Lê Khắc Nam - Ủy viên thường vụ thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng; Thượng tọa Thích Quảng Tùng - Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chủ tịch Hội Phật giáo thành phố Hải Phòng; đại diện Quân khu 3, Quân chủng Hải quân, các ban, ngành của Thành phố, các nhà hảo tâm, v.v.