Thứ ba, 20/08/2019 | 09:31

THẢM HỌA CHẤT ĐỘC HÓA HỌC TRONG CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM VÀ ĐẤU TRANH ĐÒI CÔNG LÝ CHO NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM - LƯƠNG TÂM VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÂN LOẠI

Cuộc chiến tranh hóa học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam là cuộc chiến tranh gây hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử loài người. Quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học; trong đó, 61% là chất da cam, chứa 366 kg dioxin. Khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm, trong đó trên 3 triệu người là nạn nhân. Nạn nhân chất độc da cam (NNCĐDC) là những người nghèo nhất trong những người nghèo; đau khổ nhất trong những người đau khổ. Những năm qua, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam và nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới đã tích cực ủng hộ, giúp đỡ NNCĐDC, nhưng do tính chất đặc biệt nguy hiểm, phức tạp của loại chất cực độc này nên hậu quả còn rất nặng nề. Vì vậy, tiếp tục giải quyết hậu quả và đấu tranh đòi công lý cho NNCĐDC là nhiệm vụ quan trọng, là lương tâm, trách nhiệm của cộng đồng xã hội và cả nhân loại.
Để giúp bạn đọc tham khảo, nghiên cứu có tính hệ thống về chủ đề trên, Tạp chí Da cam Việt Nam từ số 8 đến số 11/2019 sẽ đăng chùm bài viết của tác giả: Trần Đình - Mạnh Dũng.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.Bài 1:

THẢM HỌA CHẤT ĐỘC HÓA HỌC (1961 - 1971)

Mưu đồ đen tối

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954) của quân và dân ta đã buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, cam kết chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Tuy nhiên, với âm mưu xâm lược nước ta, Mỹ đã lợi dụng cơ hội này để can thiệp vào miền Nam, nhằm biến nước ta thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 7 tỷ đô la, trong đó 1,5 tỷ là viện trợ quân sự. Đáng lưu ý là, ngay từ năm 1959, tận dụng thành tựu của các nghiên cứu về chất hóa học diệt cỏ (2,4-D và 2,4,5-T), Bộ Quốc phòng Mỹ đã chủ trương phát triển chất diệt cỏ này thành một vũ khí quân sự và quyết định xây dựng phương án sử dụng hóa chất này tại miền Nam Việt Nam trong khuôn khổ “Chương trình sử dụng chất diệt cỏ ở Đông Nam Á”.

Cuối năm 1960, Tổng thống John F. Kennedy chấp thuận khuyến nghị của Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao về sử dụng chất diệt cỏ trong chiến tranh và triển khai Chiến dịch Khai quang, phá hủy hoa màu (Operation Ranch Hand) tại Việt Nam. Theo đó, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng thông báo cho Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về sử dụng hóa chất vào mục đích khai quang, làm rụng lá cây tại một số khu vực ở miền Nam Việt Nam. Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã ban hành Chỉ thị về “Công tác diệt trừ cây cỏ”. Năm 1961, Mỹ bắt đầu triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam; đồng thời, đây cũng là năm đánh dấu sự kiện quân đội Mỹ bắt đầu sử dụng chất độc hóa học ở miền Nam Việt Nam. Ngày 30/2/1961, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thành lập Trung tâm Thực nghiệm và Phát triển khả năng tác chiến, với nhiệm vụ là: dự toán, tiếp nhận, quản lý, cấp phát hóa chất, một số loại phương tiện phun rải và đánh giá hiệu quả của hóa chất diệt cỏ. Trên cơ sở kế hoạch của Chiến dịch Ranch Hand, Trung tâm này đã xây dựng Kế hoạch 202 (khai quang, phá hủy hoa màu). Tại cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (ngày 11/5/1961), Tổng thống John F. Kennedy tái khẳng định mục tiêu của Mỹ tại Việt Nam và chuẩn y 5 hành động bổ sung cần thiết, trong đó có chủ trương sử dụng chất diệt cỏ, khai quang làm rụng lá cây. Mục đích sử dụng hóa chất diệt cây cỏ được xác định là: (1) Làm trụi lá cây ở những vùng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam kiểm soát. Phát hiện đường giao thông, các căn cứ của quân Giải phóng để tiến hành các cuộc tập kích. (2) Phá hoại mùa màng, cắt đường cung cấp thực phẩm tại chỗ của du kích và quân Giải phóng, ngăn cản việc thành lập các khu quân sự của đối phương. (3) Làm trụi lá cây, tạo vành đai trắng bảo vệ xung quanh các căn cứ quân sự, các đường vận chuyển và kho dự trữ của quân đội Mỹ và đồng minh, nhằm phát hiện, ngăn chặn sự xâm nhập, tấn công của lực lượng cách mạng. Theo đó, từ tháng 7/1961, một số lượng lớn hóa chất diệt cây cỏ được chuyển vào miền Nam Việt Nam qua đường hàng không và đường hàng hải. Số hóa chất độc hại này được tàng trữ chủ yếu tại các sân bay quân sự, như: Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng và cất giữ tạm thời với số lượng hạn chế ở các sân bay: Phù Cát, Nha Trang và Tuy Hòa v.v.

Từ thí nghiệm đến mở rộng các vùng phun rải hóa chất diệt cỏ.

Ngày 8/8/1961, trong cuộc họp tại Kon Tum, Bộ Tư lệnh Viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) đã đồng ý chấp thuận chọn quận Đắc Tô là khu vực thí điểm phun rải chất diệt cây cỏ chiến thuật (tactical herbicides). Sau 2 ngày chuẩn bị, ngày 10/8/1961, phi vụ phun rải thí điểm chính thức được tiến hành dọc theo quốc lộ 14 từ thị xã Kon Tum lên Đắc Tô. Đây là chuyến bay phun rải chất độc hóa học đầu tiên của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Cũng chỉ ít ngày sau đó, vụ phun rải thí điểm thứ hai cũng được tiến hành tại Kon Tum. Trong đợt này, chất Trinoxol được phun rải lên khu vực trồng khoai lang, sắn, chuối và cỏ tranh; kết quả, sau 2 giờ, tất cả các loài thảo mộc này đều bị héo rũ. Tiếp đó, nhiều cuộc thí nghiệm khác được tiến hành; không chỉ thí nghiệm trên các loại cây cỏ khác nhau, mà còn thí nghiệm các chiến thuật phun rải khác nhau, các thủ tục bơm hóa chất lên máy bay, các loại trang thiết bị, việc xác lập thủ tục chọn mục tiêu, phê chuẩn phi vụ phun rải và huấn luyện phi công của quân đội Việt Nam Cộng hòa, v.v.

Từ các cuộc thí nghiệm, nhóm nghiên cứu của Mỹ còn rút ra kết luận là: với tỷ lệ 50/50, hỗn hợp hai chất diệt cỏ 2,4-D và 2,4,5-T có hiệu quả cao nhất - đó chính là chất da cam (agent orange) trong đó có chứa dioxin - chất độc nhất trong các chất độc mà loài người biết đến. Với liều lượng 1 picogram dioxin (1 phần nghìn tỷ gam) có thể gây nên bệnh ung thư, tai biến sinh sản ở người, vài chục nanôgam (1 phần tỷ gam) có thể lập tức gây chết người, đặc biệt chất độc da cam di truyền xuyên thế hệ.

Đáng chú ý là, ngay từ thời Tổng thống Kenedy, các quan chức Mỹ đã biết rõ sự tác động nguy hiểm của loại hóa chất này đối với cơ thể con người. Nhưng vì mục tiêu “chống cộng” nên Mỹ cố tình bỏ qua và tìm mọi cách che giấu hành động của mình. Các máy bay phun rải (của Không lực Hoa Kỳ) làm nhiệm vụ này đều được sơn cờ 3 sọc của Việt Nam Cộng hòa; phi công phải mặc thường phục, v.v.. Bên cạnh đó, chính quyền Sài Gòn cũng tìm mọi cách bưng bít sự thật, tuyên truyền, lừa bịp đồng bào ta, rằng: các chất này không gây tác hại gì cho sức khỏe con người.

Truyền đơn tuyên truyền của chính quyền Sài Gòn

Sau những cuộc thí nghiệm phun rải hóa chất được Mỹ đánh giá là “đạt kết quả thuận lợi”, quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã chuyển sang giai đoạn mới: mở rộng địa bàn phun rải. Trung tâm Thực nghiệm và Phát triển khả năng tác chiến đã soạn thảo một kế hoạch tác chiến hóa học trên quy mô lớn, gồm: Biên giới Việt Nam với Lào, Cam-pu-chia, vùng Tây Nguyên; Chiến khu D; các khu rừng ngập mặn, các khu vực nghi ngờ có quân Giải phóng trú ẩn, v.v.. Theo đó, mật độ các cuộc phun rải hóa chất diệt cây cỏ cũng không ngừng tăng lên; cùng với đó là sự ra đời nhiều loại hóa chất mới. Ngày 15/8/1961, tại phía tây huyện Hàm Thuận (tỉnh Bình Thuận) không quân Mỹ đã phun rải hóa chất được chế tạo ở dạng bột, khi rơi xuống, hóa chất này tỏa ra như sương mù, nhanh chóng hủy hoại mùa màng của nông dân.

Ngày 24/8/1961, lần đầu tiên máy bay của quân lực Việt Nam Cộng hòa tham gia phun rải hóa chất dọc theo quốc lộ 13 ở phía bắc Sài Gòn với chiều dài gần 80 km. Đây là mục tiêu do đích thân Tổng thống Ngô Đình Diệm lựa chọn. Ở huyện Châu Thành (tỉnh Bình Long), sau khi 3 chiếc máy bay Mỹ phun rải chất độc hóa học, nhiều người bị đau đầu dữ dội và khó thở, nhiều gia súc bị chết hoặc ốm; cây ăn quả và cây lương thực bị héo rũ, chết khô.

Các chiến thuật phun rải cũng được nghiên cứu đổi mới. Các máy bay phun rải không chỉ bay ban ngày mà còn tổ chức bay vào ban đêm, nhằm tránh tổn thất do phòng không của quân Giải phóng; phương tiện phun rải không chỉ là các loại máy bay (C.123, phản lực F4E, trực thăng,…) mà còn đặt máy phun Buffalo turbine trên ô tô, tàu hỏa để phun rải; nhiều khu vực không chỉ bị phun rải một lần mà còn bị phun rải nhiều lần; không chỉ phun rải ở Việt Nam mà còn phun rải ở Lào, Cam-pu-chia. Nguy hiểm hơn, chất độc hóa học không chỉ dùng để phá hoại hoa màu, tàn phá các khu rừng, mà còn dùng để giải tán các đoàn biểu tình. Ngày 3/6/1963, trước hàng ngàn người biểu tình tại Huế, quân đội và cảnh sát của chính quyền Sài Gòn còn liều lĩnh phun hóa chất “màu nâu đỏ” vào đoàn biểu tình. Kết quả có 67 người phải nhập viện vì thương tích hóa học.

Chỉ tính riêng năm 1964 đã có 363 đợt phun rải hóa chất trên khoảng 15.215 ha hoa màu và 250 km đường bộ, đường xe lửa, ven kênh, rạch. Trong Dự án “Cáo đầm lầy” (1965) quân đội Mỹ đã sử dụng 77.600 lít hóa chất; chỉ trong ngày 17/12/1965 đã có 163 lượt chiếc máy bay phun rải. Năm 1966, Mỹ và đồng minh đã sử dụng hơn 5 triệu lít hóa chất diệt cây cỏ, phun rải lên khoảng 20.000 ha hoa màu và thảm thực vật. Để tạo thành vùng “trắng” ở những khu vực nghi ngờ quân Giải phóng trú ẩn, sau khi dùng các chất độc hóa học phát quang, quân đội Mỹ còn thả tiếp bom Na-pan để đốt trụi cây cỏ. Đây là phương thức tác chiến rất dã man, hủy hoại môi trường tự nhiên và nguy hiểm hơn là hậu quả của nó đối với cơ thể con người.

Máy bay Mỹ phun rải chất độc hóa học

Từ năm 1967 đến 1969 được xác định là những năm đỉnh điểm của Chiến dịch Ranch Hand. Năm 1967, Mỹ đã phun rải trên diện tích khoảng 70.000 ha. Một tuần, từ 22 - 28/9/1969, đã có 100 lượt máy bay hoạt động phun rải. Trong một khu vực chỉ 7 ha (thuộc Thừa Thiên Huế) mà bị phun rải khoảng 800 lít chất da cam và 150 lít chất xanh. Theo người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Mỹ, trong năm 1969, Mỹ đã phun rải 12,5 triệu lít chất độc hóa học xuống khoảng 500.000 ha hoa màu và thảm thực vật ở miền Nam Việt Nam. Trong 5 năm từ 1964 đến 1969, quân đội Mỹ đã sử dụng số lượng hóa chất trị giá 134,9 triệu USD.

Cùng với các vụ phun rải theo kế hoạch, các vụ xả thải khẩn cấp (trường hợp máy bay bị trúng hỏa lực đối phương hoặc do máy bay hỏng) cũng nhiều lần diễn ra. Tính từ 1965 đến 1970, đã có 37 vụ xả chất độc hóa học khẩn cấp với khoảng 43.000 lít (trong đó có gần 15.000 lít chất da cam). Tính nguy hại ở chỗ, trên một diện tích nhỏ phải hứng chịu một số lượng rất lớn chất độc hóa học dẫn tới sự ô nhiễm môi trường có thể kéo dài hàng trăm năm.

Năm 1970, tuy số lượng hóa chất có giảm, song các phi vụ phun rải vẫn được tiến hành thường xuyên. Nhiều vùng tiếp tục bị phun rải nhiều lần, như: Cao Lãnh, Mỹ Hội, Mỹ An (thuộc tỉnh Kiến Phong); Châu Thành, Bình Minh (Vĩnh Long); Kỳ Phước, Kỳ An (huyện Tam Kỳ, Quảng Nam),v.v.. Ngày 21/6/1971, Ủy ban Quốc tế điều tra tội ác chiến tranh của Mỹ tại Đông Dương đã cho biết, trong năm 1970 - 1971, Mỹ vẫn tiếp tục rải khoảng 4,2 triệu lít chất độc hóa học xuống ba nước Đông Dương.

Tội ác do chất độc hóa học gây ra không chỉ đối với nhân dân Việt Nam, Lào, Campu-chia mà nhiều binh lính của Mỹ và các nước đồng minh bị ảnh hưởng. Hành động đó đã bị nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới lên án. Trước tình hình đó, từ ngày 3/5/1971, quân đội Hoa Kỳ đã phải dừng các cuộc phun rải, giao lại cho quân đội Việt Nam cộng hòa đảm nhận. Và chiếc trực thăng cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng hòa phun rải được xác định là ngày 31/10/1971.

Những bằng chứng về hoạt động phun rải chất độc hóa học ở miền Nam của quân đội Mỹ và đồng minh là không thể chối bỏ. Các hoạt động đó đã gây hậu quả hết sức nặng nề đối với môi trường và con người Việt Nam.

* Các số liệu được trích dẫn từ nguồn: Tác phẩm Chiến tranh hóa học ở Việt Nam - Biên niên sự kiện của Tiến sĩ Vũ Hoài Tuân, Hà Nội 2015; các kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế.

(Số tiếp theo: Hậu quả nặng nề và những mảnh đời bất hạnh)

26 tỉnh thành hội khu vực phía Bắc trao đổi, rút kinh nghiệm hoạt động Hội

* Năm 2020, Hội NNCĐDC/dioxin Lạng Sơn đăng cai tổ chức Hội nghị trao đổi kinh nghiệm công tác Hội các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ X.

Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin thành phố Hải Phòng: Tri ân những tấm lòng vàng và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì

Sáng 02/8/2019, Hội NNCĐDC/dioxin thành phố Hải Phòng đã tổ chức Hội nghị tri ân “những tấm lòng vàng” và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì. Dự Hội nghị có các đồng chí: Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh - Chủ tịch Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam; đồng chí Lê Khắc Nam - Ủy viên thường vụ thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng; Thượng tọa Thích Quảng Tùng - Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chủ tịch Hội Phật giáo thành phố Hải Phòng; đại diện Quân khu 3, Quân chủng Hải quân, các ban, ngành của Thành phố, các nhà hảo tâm, v.v.