Thứ hai, 22/07/2019 | 09:55

Những cuộc đời mang di họa da cam

“Cực lắm chú ơi. 40 năm qua, gia đình tôi không ngững mặt lên được, phần vì lo cơm áo gạo tiền, phần vì phải đối mặt với bệnh tật. Mà ngẩng mặt lên sao được cơ chứ, cứ một năm, lại đem con đi chôn một lần. Bây giờ tôi đã kiệt sức rồi. 15 lần sinh con, giờ chỉ còn ba đứa, mà chẳng đứa nào lành lặn”. Người cựu binh có gia cảnh đặc biệt thương tâm ấy là Đỗ Đức Địu ở thôn Hà Thiệp, xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Đói ăn lá tàu bay, khát uống nước suối rừng

Năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang diễn ra vô cùng ác liệt, rất cần lực lượng tăng cường cho chiến trường, người thanh niên Đỗ Đức Địu, như bao trai làng thời ấy đã tạm biệt gia đình, quê hương lên đường nhập ngũ.

Sau 3 tháng huấn luyện tân binh, ông được biên chế vào một đại đội trực tiếp chiến đấu trên rừng Trường Sơn và Mỏ Tàu huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. “Tôi không nhớ bao lần hành quân xuyên rừng, bao lần uống nước suối nữa. Có bữa, cả đại đội đang hành quân, nghe tiếng máy bay Mỹ gầm rú trên trời, ngước nhìn lên thấy một vệt màu trắng. Có ai biết đó là chất độc da cam đâu, chỉ biết chúng rải để triệt hạ rừng, không cho bộ đội ẩn nấp đâu chứ. Có buổi chiều tối, chúng tôi hành quân đến giữa rừng, dừng chân nghỉ, nhìn thấy hàng cây trơ trọi lá mà chẳng hiểu gì. Cả đại đội chúng tôi mắc võng ngủ giữa rừng Trường Sơn. Sáng ra tóc người nào người đó đỏ hoe, trên đầu tăng võng đọng nước trắng đục như nước vo gạo. Anh em hò nhau xuống suối tắm, gội đầu. Chúng tôi đã uống luôn cả nước suối rất vô tư mà không hề biết dòng nước ấy đã bị Mỹ rải chất độc. Lúc đó, chẳng ai nghĩ đến chất độc chết tiệt ấy, chỉ biết cầm súng chiến đấu và mong ngày đất nước thống nhất để trở về với gia đình”, ông Địu chia sẻ.

Và chính ông cũng không hề biết, những ngày tháng hành quân xuyên rừng, uống nước suối rừng, ăn lá tàu bay ấy, chất độc da cam đã ngấm sâu vào cơ thể ông, để rồi những đứa con sau đó ông sinh ra lần lượt chết.

Ông Địu lau mặt cho hai con gái tật nguyền, Đỗ Thị Hằng và Đỗ Thị Nga

12 lần đóng quan tài chôn con

Sau giải phóng năm 1975, ông Địu được nghỉ phép, về quê, lấy vợ rồi lại khoác ba lô trở lại đơn vị và chờ đợi tin vui từ người vợ trẻ. Ông không hề biết dòng máu đang chảy trong ông đã nhiễm nặng nề chất độc da cam/dioxin. Một năm sau ngày cưới, bà Phạm Thị Nức sinh cho ông đứa con gái đầu tiên đặt tên là Đỗ Đức Hòa. Niềm vui chưa tày gang, chỉ hai ngày sau khi chào đời, tự dưng đứa bé khóc thét, co rúm người rồi sồi bọt mép. Đầu đột nhiên phù to, da vàng như nghệ, mũi, tai, miệng chảy nước nhầy nhầy màu rồi chết ngay trên tay bà Nức. Bà Nức kinh hoàng ngất lịm mà tay vẫn bồng con. Từ đơn vị, ông Địu buồn khổ, ông viết thư về động viên vợ: “Coi đó là một tai nạn, chúng mình sẽ sinh đứa con khác, nó sẽ khỏe mạnh, em cứ yên tâm”.

Năm 1981, đứa con thứ hai chào đời, với niềm mong đợi của hai vợ chồng. Lúc đó, ông Địu đã được phục viên về quê. Ông đặt tên con là Đỗ Thị Bình, với ý nghĩa đất nước đã hòa bình, không còn chiến tranh, chấm dứt những ngày cầm súng trên chiến trường. Một năm sau, chị Nức tiếp tục thai nghén đứa con thứ ba với tâm nguyện: có thêm thằng con trai cho “có nếp có tẻ”. Thế nhưng, tai họa lại ập đến. Đó là một buổi chiều khi bà Nức đang cho con bú, bỗng nhiên đứa con chưa kịp đặt tên khóc thét, co giật liên hồi, máu mồm, máu mắt chảy ra, người mềm nhũn rồi chết trong đau đớn mà miệng vẫn ngậm bầu sữa mẹ.

Lần vượt cạn thứ tư, hai cô con gái sinh đôi cũng lần lượt theo nhau về với cát bụi. Trước nỗi đau tột cùng ấy, bà Nức như hóa điên, hóa dại. Có lúc nghĩ về các con, đau đớn quá, bà Nức mất cả ý chí, chạy thục mạng ra đường la hét, khóc than.

Ngày ấy, ở vùng quê nghèo nơi ông bà đang sống còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Bản thân ông Địu là con trai độc nhất nên áp lực có “một thằng chống gậy nối dõi tông đường” luôn đè nặng. Những lần sinh nở không thành công, trong lòng bà Nức cảm thấy có lỗi với chồng, với họ hàng vô cùng. Mặc dù sức khỏe dần cạn kiệt, song để không hổ thẹn với làng xóm, ông bà cứ gượng hết lần này đến lần khác. Vì quá thương chồng, bà Nức âm thầm quyết định mang thai đứa thứ năm. Một lần nữa, nỗi đau lại ập đến, khi cái thai mới được 6 tháng thì bị hỏng. Rồi đứa thứ 6, thứ bảy… tất cả đều chung một số phận: đẻ được dăm bữa, nửa tháng là chết, có đứa chết khi mới lọt lòng. Ông Địu lẳng lặng đưa những đứa con đi chôn phía sau vườn nhà. Vì hài nhi bé bỏng, nên ông không muốn đem ra cánh đồng ngoài xa. “Vì đứa con thứ hai lớn lên vẫn khỏe mạnh, nên vợ chồng tôi vẫn hy vọng mình sinh thêm con lành lặn. Nhưng không phải thế chú ơi, từ đứa thứ tư, cứ sinh ra được vài ngày, nhiều thì nửa tháng là tự nhiên lăn ra chết. Lần bà ấy đẻ đứa thứ 12, tôi hi vọng lắm, nhưng rồi nó cũng chết khi chưa kịp đặt tên. Để ghi lại ngày, tháng chết của những đứa con, tôi phải ghi lại vào cuốn sổ để nhớ ngày mà cúng giỗ”.

12 lần đem con đi chôn, là 12 lần tự tay ông Địu đóng hòm. Có những lần vợ mới mang thai, ông đã âm thầm đóng hòm sẵn, để khi con chết, có cái mà bỏ xác vào đó, dù ông không bao giờ nghĩ rằng những đứa con đẻ ra sau đó bỏ ông mà đi. Ông Địu không còn nước mắt để khóc cho những đứa con chết yểu mới lọt lòng. Ông như chiếc bóng lầm lũi đêm ngày thơ thẩn với 12 ngôi mộ chôn ngay trong vườn sau nhà, mà dưới tầng đất ấy là xương cốt, máu thịt con ông. Để nhớ ngày tháng cúng giỗ, ông Địu đã đánh số thứ tự trên từng ngôi mộ từ số 1 đến số 12. Có tháng ông phải làm giỗ cho con đến ba lần.

Ông Địu cùng con gái út bên cạnh 12 ngôi mộ

Mặc dù mỗi lần đem con đi chôn phía vườn sau nhà, ông Địu đều giữ kín chuyện không cho láng giềng biết, vì ông vẫn âm thầm hi vọng đứa con lành lặn ra đời, song cuối cùng, chuyện cứ đẻ ra là tự dưng con chết cũng không dấu được mãi. Anh em họ hàng bên gia đình ông Địu nghi ngờ nguyên nhân của những đứa con chết non kia là do bà Nức “không biết đẻ”. Mặc dù rất thương vợ, nhưng ông Địu cũng bỏ nhà ra đi tìm hạnh phúc mới với hi vọng kiếm một thằng nối dõi tông đường lành lặn.

Ông Địu bỏ nhà đi biệt tích và lấy người khác sau đó. Nhưng rồi sau gần ba năm chung sống với vợ mới, ông trở về bên bà Nức đau khổ thú thật: “Tôi đã lấy người đàn bà khác với hi vọng sinh một thằng con trai, nhưng khi đẻ ra nó cũng chết. Lỗi là do tôi chứ không phải do mình”. Đau khổ, tuyệt vọng, bà Nức giang rộng vòng tay đón chồng và tiếp tục nuôi hi vọng mong manh vào những lần sinh nở kế tiếp. “Lúc đó, tui cũng chẳng biết ông nhà tui nhiễm chất độc da cam. Mãi sau này, ông ấy đi Hà Nội khám mới vỡ lẽ ra”, bà Nức chia sẻ.

Những đứa con “phép mầu”

Sau khi biết mình bị nhiễm chất độc da cam, hai vợ chồng ông Địu nâng niu đứa con sinh lần thứ hai tên Đỗ Thị Bình như vàng ngọc. Tuy không còn nước mắt để khóc nữa, nhưng trong tâm khảm, vợ chồng ông coi đó là một phép mầu. Tuy nhiên, khát khao về đứa con trai lành lặn chưa bao giờ nguôi ngoai trong tim bà Nức.

Lần thứ 14 bà Nức mang thai, bà hồi hộp lo lắng chờ ngày sinh nở. Tuy bà không chắc chắn đứa con tới chào đời có chết nữa hay không, song bà vẫn tin mãnh liệt nó sẽ sống và khôi ngô. Niềm vui vỡ òa khi Đỗ Thị Hằng ra đời lành lặn và khỏe mạnh. Một năm sau đó, bà Nức lại sinh đứa con thứ 15 đặt tên là Đỗ Thị Nga. “Đây là đứa cuối cùng, nó cũng sống sót thôi chứ không nhanh nhẹn như người bình thường. Trong ba đứa con sống sót, chỉ mỗi con Bình là tương đối bình thường thôi, còn hai con em mỗi lần giông mưa, hay nắng nóng, nó vẫn lên cơn sùi bọt mép và co giật rồi lăn đùng ra đất dãy dụa”, ông Địu cho biết.

Khi hỏi tại sao ông lại đẻ nhiều con thế, ông Địu phân trần: “Lúc cưới, vợ chồng tôi chỉ cam kết với nhau là đẻ 2 đứa để chăm sóc cho nó học hành, nhưng cứ đẻ ra là nó chết nên tôi cứ hi vọng kiếm một đứa lành lặn để nuôi. Sau này tôi biết mình nhiễm chất độc da cam mới hiểu rằng, dù đẻ nhiều hơn nữa, nó vẫn chết hoặc dị dạng”.

Tuần nào ông Địu cũng ra mộ thắp hương cho 12 đứa con. Mỗi lần như thế, ông lại ngồi phệt xuống nền đất nói một mình cầu nguyện cho 12 con mình siêu thoát. Và, đấy cũng chính là nơi ông tâm sự, trút bỏ nỗi lòng với những đứa con đang nằm lạnh lẽo trong lòng đất.

Ông Địu ôm con gái trong niềm đau

Nhiều năm qua, hậu họa chất độc da cam của cuộc chiến phi nghĩa do đế quốc Mỹ gây ra vẫn đeo bám nhiều thế hệ. Những nạn nhân chất độc da cam trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời, hơn lúc nào hết, họ oằn mình, gào thét, quằn quại trong đau đớn tuyệt vọng. Họ là những người nghèo nhất trong những người nghèo của xã hội. Và dường như thời gian có dài bao nhiêu, chiến tranh đã hết, nhưng nỗi đau ấy vẫn nguyên vẹn như mới hôm qua.

Lê Đình - Bá Dũng

Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin thành phố Hải Phòng: Tri ân những tấm lòng vàng và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì

Sáng 02/8/2019, Hội NNCĐDC/dioxin thành phố Hải Phòng đã tổ chức Hội nghị tri ân “những tấm lòng vàng” và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì. Dự Hội nghị có các đồng chí: Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh - Chủ tịch Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam; đồng chí Lê Khắc Nam - Ủy viên thường vụ thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng; Thượng tọa Thích Quảng Tùng - Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chủ tịch Hội Phật giáo thành phố Hải Phòng; đại diện Quân khu 3, Quân chủng Hải quân, các ban, ngành của Thành phố, các nhà hảo tâm, v.v.