Thứ tư, 25/11/2020 | 10:58

BÀI DỰ THI: Đồng cảm với nỗi đau da cam

Vào những ngày đầu tháng 8 năm 1961, Quân đội Mỹ đã rải những lít chất diệt cỏ đầu tiên xuống miền Nam Việt Nam, mở màn cho cuộc chiến tranh hoá học kéo dài suốt 10 năm. Cuộc chiến đã để lại hậu quả nặng nề cho con người và môi trường tại đất nước hình chữ S. Trải qua mấy chục năm đất nước đổi mới, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - chính trị - xã hội, mức sống người dân ngày càng được nâng cao. Song bên cạnh đó vẫn còn nhiều gia đình đang phải chịu đựng những mất mát, do di chứng của chiến tranh hóa học gây ra. Chính phủ Việt Nam cùng với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đã, đang và sẽ tiếp tục nỗ lực để khắc phục hậu quả do chất độc da cam/dioxin gây ra.

Tình cờ, một lần qua thông tin của đồng nghiệp, tôi được biết đến hoàn cảnh gia đình ông Trần Văn Tập - một cựu chiến binh mang trong mình chất độc da cam. Sau rất nhiều lần thuyết phục, động viên, gia đình ông Tập mới cho phép tôi viết những dòng chia sẻ dưới đây về hoàn cảnh khó khăn và sự hi sinh thầm lặng của người lính ấy vì bình yên cho dân tộc, độc lập tự do của Tổ quốc.

Người lính thầm lặng

Gia đình ông Trần Văn Tập sinh tháng 10 năm 1943, nhập ngũ ngày 13/9/1965. Hiện ông đang sinh sống tại khu Lũng Thượng - xã Hà Thạch - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ. Từ tháng 9/1965 đến tháng 12/1965, ông tham gia huấn luyện tân binh ở tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên). Từ tháng 01/1966 đến tháng 3/1966 ông được đơn vị cho đi học lái xe nâng cao nghiệp vụ chuyên môn phục vụ công tác. Từ tháng 4/1966 đến năm 1971 ông Tập công tác tại Đại đội 1 - Tiểu đoàn 9 - Sư đoàn 367 - Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân. Nhiệm vụ chính của ông Tập khi ấy là lái xe vào Nam tiếp tế, kéo pháo vào trận địa. Đến năm 1971 ông Tập được đơn vị tạo điều kiện cho ra miền Bắc nghỉ an dưỡng trong thời gian 6 tháng, tại Đoàn 80 ở Ngô Khê - Bình Lục - Nam Hà. Sau đó ông tiếp tục trở về đơn vị công tác tại Cục Quản lý kiến thiết cơ bản, nhiệm vụ chuyên chở hàng hóa hậu cần bàn giao đến các đơn vị chiến đấu. Ông Tập đã trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các chiến trường đường 9 - Nam Lào; chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên Huế. Trong thời gian tại ngũ, ông Tập luôn tích cực hoàn thành nhiệm vụ trên cương vị chức trách được giao.

Ngày về gian nan

Khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, tháng 10/1975, ông Tập được xuất ngũ trở về địa phương sinh sống với công việc tăng gia, sản xuất nông nghiệp. Qua sự giới thiệu của bạn bè, ông Tập đã nên duyên với người vợ tên là Nguyễn Thị Suất, cùng quê.

Do hậu quả của chiến tranh, sức khoẻ của ông đã suy giảm nhiều, ông thường xuyên phải nhập viện bởi những căn bệnh khác nhau. Kinh tế gia đình trong bối cảnh chung của đất nước sau giải phóng khi ấy chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp nên gặp nhiều khó khăn. Không đủ điều kiện để xây dựng nhà ở, gia đình ông phải ở tạm tại khu lều canh vịt, lợp cỏ tranh vách đất, qua ngày… Trong một lần xảy ra hoả hoạn, ngọn lửa đã thiêu rụi đồ đạc trong nhà cùng với những giấy tờ, hồ sơ cá nhân ghi chép chi tiết quá trình chiến đấu của ông.

Cuộc đời ông rẽ sang một ngả khác khi ba người con của ông là: Trần Văn Trung (sinh năm 1987); Trần Văn Kiên (sinh năm 1989) và Trần Thị Thu (sinh năm 1993) lần lượt ra đời và mang trong mình di chứng của chất độc da cam: chân tay co rút, dính liền các ngón lại với nhau, mất khả năng lao động bình thường; anh Trần Văn Kiên - con trai thứ hai của ông hiện đã lập gia đình, sức khỏe yếu, không kiếm được việc làm.

Cô con gái út của gia đình là Trần Thị Thu, may mắn hơn anh trai khi có cơ hội học hành, tốt nghiệp đại học và xin được việc làm tại Công ty Sản xuất - Gia công cơ khí Đại Phan. Việc tích cực tập vật lý trị liệu và phẫu thuật đã giúp Thu có thể sử dụng xe gắn máy đi làm sau nhiều lần chấn thương. Tuy nhiên, trong bối cảnh đầu năm 2020 khi toàn thế giới đang phải “gồng mình” phòng chống dịch bệnh Covid -19, công ty của Thu cũng cho nhân viên nghỉ việc dài ngày không lương và vừa mới quay trở lại làm việc.

Thương các con, mặc dù hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn, đã có lần bà Suất đã bán cả cặp bò - cơ nghiệp của gia đình để có thêm tiền chi phí ăn ở tại bệnh viện Việt Đức - Hà Nội trong những ngày tham gia phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi một phần chức năng chân tay cho con cái mình.

Những khó khăn, trắc trở trong cuộc sống gia đình ông Tập vẫn chưa chấm dứt khi đến đời thứ ba, con gái đầu lòng của anh Trần Văn Kiên là cháu Trần Thu Hiền mới sinh được vài tháng, qua kiểm tra y tế cũng đã phát hiện dị tật dính liền ngón tay, ngón chân, co rút… Đó thực sự là một nỗi đau lớn đối với gia đình. Hiện tại cháu bé vẫn phải theo dõi sức khỏe và chẩn đoán khả năng hồi phục chức năng để điều trị.

Trao đổi với tôi, bà Nguyễn Thị Suất bày tỏ: “Được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và một số khoản vay mượn, gia đình tôi cũng đã cất được căn nhà cấp bốn vững chắc hơn để bớt khó khăn trong sinh hoạt. Cháu thứ hai là Trần Văn Kiên không kiếm được việc làm hàng tháng nhưng được nhận hỗ trợ chính sách. Mong ước lớn lao nhất của tôi là những đứa cháu sau này sinh ra không phải chịu di chứng của chất độc da cam hằn lên thân thể. Chồng tôi hiện tuổi tác đã cao lại thường xuyên đau ốm nên kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn”.

Gia đình nhà ông Tập vui vẻ trong một lần cưới con

Câu chuyện tôi chia sẻ cùng bạn đọc còn chưa thực sự đầy đủ do những tư liệu, hồ sơ cá nhân ghi chép của ông Tập hiện đã bị thất lạc, mất mát sau vụ cháy căn lều năm ấy. Bản thân ông Tập cũng đã cao tuổi, mắc bệnh tai biến mạch máu não, liệt nửa người và đang trong quá trình hồi phục, nên tôi không thể phỏng vấn trực tiếp ông mà thay vào đó trao đổi, thu thập thông tin qua vợ và con gái ông.

Mặc dù có những trăn trở và day dứt khi hoàn thành bài viết này, nhưng tôi nhận thấy trách nhiệm của một người lính phải chia sẻ hoàn cảnh gia đình ông Trần Văn Tập đến với cuộc thi và tha thiết hi vọng rằng: sẽ có những sự động viên kịp thời về cả vật chất, tinh thần để gia đình ông Tập có cơ hội vượt qua khó khăn. Đó cũng chính là nghĩa cử cao đẹp để tri ân đối với ông Tập - người lính đã dành cả tuổi thanh xuân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vì nền độc lập tự do ngày hôm nay.

Bùi Đức Quý