Thứ hai, 28/09/2020 | 10:05

BÀI DỰ THI: Lá vàng đâu dễ lìa cành

Năm nay ông 86 tuổi, chỉ còn 4 năm nữa là cửu niên. Bà cũng đã ở vào ngưỡng 82. Thế mà "cặp lá vàng" này cứ lủng liểng trên cuộc đời, đêm ngày tự cật vấn: vợ chồng tôi còn sống ngày nào thì chăm sóc ngày đó, rồi đến lúc chúng tôi nằm xuống thì ai là người nuôi thằng Hiền khốn khổ...

Chẳng bao giờ oán thán cuộc đời cay nghiệt, chẳng chờ mong sự trợ giúp của bất cứ ai, những năm tháng qua vợ chồng ngoài 80 tuổi ấy cứ thản nhiên chống lại nỗi đau bệnh tật và tuổi già, hết lòng chăm nuôi người con gái tật nguyền. Hiền, người con trai của họ, mang trên mình mầm bệnh của chất độc da cam/dioxin, bị mất thần trí, đêm ngày đi lang thang suốt hàng chục năm qua. Chừng ấy năm Hiền chưa bao giờ biết nói, cử động chân tay, đến việc tự đi vệ sinh anh cũng không thể làm được.

Tuổi xế bóng vẫn là chỗ dựa của gia đình

Mái ấm gia đình bé nhỏ khổ đến tận cùng ấy đang sống trong ngôi nhà hoang lạnh sùm sụp ở thôn Minh Vượng, xã Vượng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Bà là Trần Thị Chín, đôi mắt đục ngàu như vỏ cùi nhãn khô, chân đi chậm run rẩy như "con rùa lật ngửa". Ông là Trần Văn Tín, lưng lúc nào cũng cúi gập xuống như một con lạc đà, bé nhỏ ngồi lọt thỏm giữa bốn bề bức tường trên chiếc chõng tre cũ mèm bóng nhẫy. Ngôi nhà mốc thếch phủ đầy mạng nhện, tối tăm. Không có điều kiện, không có tiền nong, họ phải "tiết kiệm năng lượng" đến mức mỗi tháng cũng chỉ dám tiêu tốn có mười mấy nghìn tiền điện. Ban ngày, có khi dùng đen pin soi khắp bốn bức tường rêu bám chỉ có hai cái giấy mừng thọ của Hội Người cao tuổi trao tặng. Bốn con mắt dòm dỏ đã tàn tạ sức sống của hai cụ cứ nhìn khách lạ như đang nhìn vào cõi hư vô.

Ông Tín kể lại cuộc trường chinh của đời mình, bằng lời lẽ cổ kính. Năm 17 tuổi, tôi rời quê nhà đi kháng chiến chống Pháp, ở Sư Đoàn 361, chiến đấu chiến trường Điện Biên Phủ. Năm 1954, tôi được cử đi học trung cấp lâm nghiệp rồi trở về công tác tại Lâm trường Hương Sơn. Năm 1964, theo tiếng gọi của Tổ quốc, tôi lại tình nguyện lên đường chống Mỹ cứu nước và có đến mười năm chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Những năm tháng chiến đấu ròng rã ấy, tôi không bao giờ quên các vùng chiến sự bị đế quốc Mỹ rải chất độc da cam. Thứ chất độc chết người ấy ngấm vào tôi tự lúc nào không biết. Thế là từ đó đến nay, tôi cứ bị mắc những cái bệnh quái ác. Lẽ ra tôi chết từ lâu rồi. Bệnh viện người ta chẩn đoán và đã trả lại bệnh án vì đây là thứ bệnh đến "thần tiên" cũng bó tay. Nghĩ đời nó chán, tôi viết đơn mãi mới được xét hưởng chế độ. Những người đi với tôi dạo ấy, chẳng ai còn sống, mỗi tôi trở về thì chẳng được gì, anh ạ".

Ông Tín, bà Chín

Kể về mình, bà Chín nói: Tuổi tôi năm nay cao lắm rồi, chẳng nhớ điều gì sất. Tôi và ông Chín già này đẻ được với nhau 5 mặt con, giờ chỉ nuôi được ba đứa. Mấy đứa con đẻ ra đứa nào cũng xinh xắn lành lẽ, nhưng bị di chứng chất độc da cam, cứ đến tuổi nhơn nhớn thì ối giời ôi, chúng cứ lần lượt chết dần. Duy chỉ được ba đứa con sống nhưng đứa nào cũng ngớ ngẩn, tính nó cứ dở dở mà lấy vợ đều khốn khó cả. Thằng Hiền có biết gì đâu, chỉ biết ú ớ, rồi la hét, chưa một lần gọi tiếng mẹ trọn vẹn. Con Thảo không đến nỗi ốm yếu nhưng sinh 5 lần thì chỉ nuôi được 2 đứa. Còn thằng Hội bị u não, tàn tật không làm gì được. Thảo và Hội theo anh vào lập nghiệp mãi trong Bình Thuận, nghe đâu cuộc sống trong đó cực lắm". Theo bà Chín, những đứa con của bà, đứa nào cũng có gia cảnh thật éo le. "Cứ lâu lâu chúng đáo qua, có khi chăm mẹ được một buổi thì ăn lẹm cả vài nồi cơm". Rõ khổ, những tưởng trẻ cậy cha, già cạy con, ai ngờ đã qua tuổi "nhân sinh thất thập cổ lai hy" rồi mà vẫn phải là chỗ dựa cho cả đàn con. Đúng là "cá chuối đắm đuối vì con".

Ông Tín và bà Chín giờ yếu lắm, nhưng vẫn phải tự tay làm lụng kiếm sống qua ngày. Một cuộc sống, một số phận hầu như đều phải tự cung tự cấp. Ông Tín nói rằng: “nhà có mấy thước ruộng, vùng quê nghèo này quanh năm ngập úng, may thì được ăn, còn không thì cũng chẳng được gì". Ông Tín luôn luôn vắng nhà, ông gò lưng, sấp mặt làm lụng kiếm ăn. Có khi ông làm thợ vữa thợ hồ, có khi thấy ông lặn ngụp dưới mương đánh giậm, xúc tép giữa cái giá rét căm căm, có khi đi làm cỏ thuê, đi cấy hay đi gặp thuê. Đói bụng, đầu gối phải bò, không làm, lấy gì mà sống? Câu hỏi ấy như nhát dao cứa, khiến lòng tôi trào dâng niềm xúc động nghẹn ngào.

Nghe bố mẹ nói chuyện với khách, anh con trai tàn tật Trần Bá Hiền cứ ngồi cười vô thức, Hiền không biết chữ, cứ ngớ nga ngớ ngẩn, suốt ngày bỏ đi lang thang, vì đầu óc anh không bình thường. Không biết tự đi vệ sinh, vì vậy mỗi lần như thế thì Hiền phải nhờ mẹ dìu từ trên giường xuống, vì cơ thể của em cứ cong vênh như...cái lá khô. Hiền chỉ mặc độc một cái quần ngắn cũn cỡn để thuận tiện cho việc đi vệ sinh, xung quanh vẩn lên mùi xú uế. Đôi chân anh mềm oặt, gương mặt hốc hác, gầy như xác ve. Đôi tay cũng vậy. Bác sĩ bảo đầc óc anh hoang tưởng cực độ, nhớ nhớ quên quên, xương chẳng còn sức sống, tiêm thuốc vào nó cứ phá ra loang nổ khắp cơ thể. Hiền bảo đau nhức khắp mình mẩy, suốt đời anh phải sống như thế, đau như có trăm nghìn mũi dao đâm, kiếm chém khắp cơ thể". "Cháu nó tàn tật từ tấm bé", ông Tín thở dài ngao ngán rồi lấy cớ đi ra phía sau hiên nhà, đứng cạnh vườn chuối mục nát để gạt nước mắt.

"Tôi phải để cháu ngồi trên chiếc giường ọp ẹp thế này cho nó ngoan hiền mà làm ăn. Cháu nó suốt ngày như người bị cầm tù từ bấy nhiêu năm qua, thi thoảng nghĩ thương nó quá, tôi lại cầm hai chân, xoay cái mông tròn lẳn của nó đi một chút, thôi thì như thế cho nó biết được di chuyển, vừa nói bà Chín vừa bê nguyên xi bốn chiếc nồi đen đúa bé xíu, méo xệch lấy cơm bón cho Hiền ăn. Cái nồi ấy nó mốc meo đến tội tình, một cái khác đựng mấy quả trứng chưng mặt lên ăn cho đưa đẩy cơm và vài ngọn rau muống luộc dở. Thức ăn ngon ông bà nhường cho Hiền, ông bà ăn rau chấm với bột canh. Bà bón cho Hiền, bà đang lúi húi thì Hiền đã mở rộng miệng, ông Chín lại vội vàng gắp một miếng rau đưa vào miệng người con. Hai người già phải cùng chung tay mới kịp cho cậu con trai ăn uống.

Bà Tín tâm sự: "ông ấy già quá rồi, nhưng nếu một ngày ông ấy không còn nữa thì chắc cả nhà sẽ cùng phải chết, ông ấy là trụ cột". Nghe đến đoạn vậy, ông Chín quay ra mắng: "Bà lúc nào cũng nói gở, tôi mà dám chết thì tôi đã chết từ ngày còn bị bệnh da cam nó đục khoắt cơ thể tôi. Tôi không dám nghĩ đến chết là bởi vì bà và thằng Hiền, rõ thật là lẩm cẩm, cái bà này"!

Không dám về với Tổ tiên

Một lần, ông Tín cố dùng hết sức bế Nụ lên để bà Chín thay quần áo khi Hiền đi đại tiện. Chẳng hiểu sức già lẩy bẩy thế nào ông bị ngã trẹo chân, Hiền ngã, người bố gặp nạn, không tài nào nhấc Hiền lên chiếc giường được nữa. Hiền cứ nằm gục xuống nền đất ẩm ướt thế mãi như có hòn đá tảng đè lên người. Bà Chín từ nhiều năm nay, thân già lọm khọm chẳng còn đủ can đảm với việc nhấc Hiền lên. Thế là ba người cứ thế nhìn nhau. Hiền khóc lóc, kêu la, ú ớ, oán trách bệnh tật. Bà Chín bảo: "Con đừng nói thêm nữa kẻo mẹ lại khóc". Cuối cùng, sáng ra bà phải ra ngã ba đường đợi có người nhờ bế Hiền ngồi dậy.

Gia cảnh túng quẫn, nghèo khó, chỗ nào người ta mướn và thuê thì ông Tín có mặt để dùng sức lao động đổi lất bát cơm. Bà Chín triền miên nằm viện, thấy hai thân già bệnh tật, cô đơn, nuôi một người tàn tật, xóm làng có giúp đỡ chút đỉnh, Nhà nước cũng trợ cấp hàng tháng mấy trăm nghìn, nhưng nào có thấm thoát gì so với cuộc sống gần như bị xô đẩy đến bức đường cùng ấy. Thôi thì tất cả phó mặc cho số phận xoay vần...

Hết hè lại sang đông, gió lạnh về, gió buốt từng cơn, có thể Hiền lại đổ nhào lăn như hòn bi ve mà ngủ một cách tội tình. Trời ơi, "Lá vàng" dù muốn rụng về cội mà không dám, nhưng đến lúc nào đó trời bắt đi về với tổ tông thì lấy ai nuôi Hiền", giọng ông Tín thật thà như đếm: "Chết rồi thì tôi chẳng còn biết cái gì nữa, sau này, nếu có một ngày như thế xảy đến, chỉ mong Nhà nước có thương thì nuôi hộ thằng Hiền cho chúng tôi".

Ngày ngày, bà Chín vẫn phải bón từng thìa cơm và chăm con

Bốn con mắt đục mờ của hai thân già héo hon cùng lúc nhìn ra cánh đồng trước mắt, hai người cùng lúc ôm chầm lấy nhau mà khóc. Từ khoảng sân bé tí tẹo nhà ông Tín chỉ mấy bước chân là thấy cánh đồng làng. Tuổi ông bà cũng vậy, rất gần với cánh đồng làng./.

Vũ Minh Phúc