Thứ năm, 01/04/2021 | 14:44

Bài dự thi: HÀNH TRÌNH KHÔNG NGỪNG NGHỈ

Bài I

Tiếp tục lan truyền thông điệp “Đoàn kết - Trách nhiệm - Nghĩa tình" vì nạn nhân chất độc da cam

- Chiến tranh đã lùi xa, nhưng vết thương do bom đạn và chất độc hóa học (CĐHH) mà kẻ thù trút xuống mảnh đất Quảng Trị vẫn chưa thể liền da. Hơn 9.000 người dân Quảng Trị bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam là chừng đó nỗi đau và sự bất hạnh. Biết bao gia đình đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước, giờ hòa bình lại phải nuốt lệ chăm sóc những người con bị dị tật; biết bao em nhỏ không được đến trường, gắn cuộc đời và tương lai trên những chiếc xe lăn… do ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Vì thế, hành trình khắc phục hậu quả do chất độc này để lại trên mảnh đất Quảng Trị nhiều năm qua rất khó khăn, vất vả nhưng đây cũng là hành trình xuyên suốt, không ngừng nghỉ để góp phần xoa dịu nỗi đau da cam.

Ông LÊ VĂN DĂNG, Phó Chủ tịch Hội Người khuyết tật, Nạn nhân da cam, Bảo trợ người khuyết tật, Bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Quảng Trị trả lời phỏng vấn.

Lãnh đạo Hội Người khuyết tật, Nạn nhân da cam, Bảo trợ người khuyết tật, Bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Quảng Trị tặng quà cho nạn nhân chất độc da cam

- Thưa ông! Năm 2021 là tròn 60 năm quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học, gây ra thảm họa da cam ở Việt Nam mà hậu quả của nó vẫn để lại nỗi đau dai dẳng cho người dân ở nhiều miền quê khác nhau trong cả nước. Đề nghị ông đánh giá về mức độ và hậu quả mà chất độc này gieo rắc ở Việt Nam?

- Đúng vậy, 60 năm đã trôi qua nhưng đến nay nỗi đau da cam vẫn còn đó, chưa thể nguôi ngoai. Vào ngày 10/8/1961, quân đội Mỹ lần đầu tiên phun rải chất độc hóa học (CĐHH) tại Quốc lộ 14, nằm ở phía Bắc tỉnh KonTum và từ đó đến năm 1971 đã tiến hành 19.905 phi vụ phun rải hơn 80 triệu lít CĐHH (61% trong đó là chất da cam) xuống gần 26.000 thôn bản, bằng ¼ tổng diện tích miền Nam Việt Nam, trong đó có 86% diện tích phun rải lần 2; 11% phun rải hơn 10 lần.

Với một lượng CĐHH lớn được phun rải lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài đã khiến cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề, các hệ sinh thái bị đảo lộn, nhiều cánh rừng bị tàn phá, đa dạng sinh học bị suy thoái, một số loại động vật, thực vật bị tuyệt chủng. Nguy hiểm hơn là CĐHH đã làm cho gần 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm, hơn 3 triệu người là nạn nhân da cam đến nay đã di truyền qua thế hệ thứ 3, thứ 4. Hàng trăm nghìn nạn nhân đã chết hoặc hằng ngày phải vật lộn với bệnh tật hiểm nghèo, đang chết dần chết mòn với các căn bệnh quái ác liên quan đến CĐHH; nhiều phụ nữ không còn thiên chức làm mẹ; nhiều trẻ em sinh ra không đủ hình hài, không được quyền sống, quyền hạnh phúc. Tất cả là do di chứng chất độc da cam/ dioxin gây ra.

- Trong chiến tranh, Quảng Trị là một trong những địa phương hứng chịu các đợt phun rải CĐHH của Mỹ. Mức độ ở đây như thế nào, thưa ông?

- Tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng vĩ tuyến 17, nơi trong thời kỳ chiến tranh đã bị quân đội Mỹ ném bom, bắn phá và rải CĐHH nặng nề. Theo tài liệu của Ủy ban 10-80 (Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả CĐHH dùng trong chiến tranh ở Việt Nam), tại Quảng Trị, quân đội Mỹ đã rải tổng cộng 710.237 gallon CĐHH, trong đó có 580.109 gallon chất da cam, 25.101 gallon chất xanh, 99.714 gallon chất trắng và 5.314 gallon các chất khác (tên CĐHH được gọi theo màu vạch sơn được đánh dấu ngoài vỏ thùng phuy chứa chất đó).

Ông Lê Văn Dăng chỉ vào phần diện tích các khu vực tại Quảng Trị bị máy bay Mỹ phun rải chất độc hóa học

Theo tài liệu của Ủy ban giải trừ quân bị Liên Hợp Quốc số CD/82 (Chemical Dissarsement), sau 7 tháng triển khai chiến dịch Ranch Hand, không quân Mỹ đã thực hiện 200 phi vụ, rải 760 ngàn lít chất diệt cỏ dọc các đường giáp vĩ tuyến 17. Với các phương tiện phun rải chất độc đa dạng, từ không trung, dưới mặt đất, kết hợp với bom cháy ở nhiệt độ cao, các loại chất độc bị phát tán ra diện rộng hơn nhiều so với bản đồ băng rải do quân đội Mỹ ghi nhận.

Tháng 6/2020, tỉnh Quảng Trị điều tra lại người nhiễm CĐHH, theo đó toàn tỉnh có 9.016 nạn nhân da cam, trong đó 5.278 người có công và 3.838 người là dân thường, giảm 6.829 người theo điều tra năm 1999 (15.485 người).

Cho đến nay, chưa ai tính được chính xác khối lượng TCDD (một loại cực độc của dioxin) được rải xuống và diện tích đất đai bị ô nhiễm bởi các loại chất độc dùng trong quân sự ở miền Nam Việt Nam.

Theo nhìn nhận ban đầu và kết quả phân tích khu vực có băng rải thì diện tích bị nhiễm CĐHH ở Quảng Trị chủ yếu thuộc địa bàn các huyện: Hướng Hóa, Đakrông, Cam Lộ, vùng phía Tây các huyện Gio Linh, Hải Lăng, Triệu Phong.

- Là một địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề do hậu quả chất độc da cam để lại, trong những năm qua, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành nhiều kế hoạch hành động khắc phục cơ bản hậu quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Ông đánh giá như thế nào về kết quả các kế hoạch hành động này?

- Thực hiện Quyết định số 651 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 3/10/2013, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định 1785/QĐ-UBND về phê duyệt kế hoạch hành động khắc phục cơ bản hậu quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Quảng Trị đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 (Quyết định 1785). Ngày 1/8/2016, UBND tỉnh tiếp tục ra Quyết định 1974/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch hành động khắc phục cơ bản hậu quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Quảng Trị giai đoạn 2016 - 2020 (Quyết định 1974).

Theo đó, UBND tỉnh phân công nhiệm vụ cho 14 sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch. Theo đó, mục tiêu tổng quát của kế hoạch là giải quyết cơ bản hậu quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Quảng Trị đối với con người và môi trường.

Về môi trường, sinh thái, sau 60 năm Mỹ ngừng phun rải CĐHH, đến nay các khu rừng bị phun rải đã khôi phục lại dần và chủ trương phủ xanh đất trống, đồi núi trọc đã mang lại màu xanh cho các cánh rừng nơi đây. Nhiều vùng trồng tiêu, trồng cao su đã mang lại giá trị kinh tế, góp phần cải thiện đời sống cho người dân Quảng Trị và tham gia xuất khẩu nhiều nước trên thế giới.

Đối với sức khỏe con người, đến cuối năm 2020, cơ bản người tham gia kháng chiến bị nhiễm CĐHH và con đẻ của họ được hưởng trợ cấp hằng tháng. Đối với người dân bị mắc 17 bệnh theo QĐ 0 /2008/QĐ-BYT của Bộ Y tế mà suy giảm sức lao động từ 61% trở lên thì được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo đối tượng bảo trợ xã hội và được hưởng chế độ bảo hiểm y tế miễn phí.

Nhìn chung, cùng với cả nước, với nghĩa tình “Vì nỗi đau da cam Quảng Trị”, những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Quảng Trị đã tài trợ, ủng hộ, giúp đỡ, chia sẻ giúp nạn nhân da cam vượt qua khó khăn, hòa nhập cuộc sống. Tổng số tiền và hiện vật vận động được trên 30 tỉ đồng, cùng nhiều hoạt động có ý nghĩa khác như: Hỗ trợ phẫu thuật chỉnh hình, khám chữa bệnh miễn phí, trao tặng học bổng, hỗ trợ sản xuất…Tuy vậy, vẫn còn một số mục tiêu của kế hoạch vẫn chưa đạt như mong muốn vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do ngân sách tỉnh còn nhiều khó khăn, không bố trí đủ kinh phí để thực hiện kế hoạch.

Để thực hiện tốt kế hoạch sắp tới, cần lập tổ giúp việc cho UBND tỉnh để theo dõi, đôn đốc, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch; khen thưởng những đơn vị thực hiện tốt và kiểm điểm trách nhiệm những đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ được phân công. Vấn đề quan trọng nhất là UBND tỉnh cần bố trí đủ kinh phí theo quyết định, kế hoạch được giao cho các ngành và các đơn vị, địa phương.

Tôi xin được dẫn lời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh khi đến thăm, làm việc với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam mới đây, rằng: “Chúng ta sẽ làm hết sức mình, kể cả vận động quốc tế, xã hội hóa nguồn lực, cùng ngân sách nhà nước để có nguồn lực cho hội và những người bị nhiễm có điều kiện tốt hơn. Chúng ta cố gắng không để sót ai…”, để tiếp tục lan truyền thông điệp “Đoàn kết - Trách nhiệm - Nghĩa tình” vì nạn nhân chất độc da cam.

Bài II

Ký ức và nỗi đau da cam

- Những ai từng chứng kiến cảnh máy bay quân đội Mỹ rải chất độc hóa học (CĐHH) lên cánh rừng và mảnh đất quê hương mình, đều có chung nỗi ám ảnh về sự tàn khốc và hủy diệt mà thứ chất độc này mang lại. Nhưng không ai nghĩ rằng, mức độ tàn khốc mà mình chứng kiến tại thời điểm đó lại gieo rắc hậu quả nặng nề đối với cuộc sống sau này đến như vậy. Mặc dù chiến tranh đã lùi xa hơn 45 năm nhưng đến nay vẫn còn nhiều người dân Quảng Trị đau chung một nỗi đau mang tên da cam.

Bốn người con của vợ chồng ông Trần Văn Trâm đều bị nhiễm chất độc da cam

Ám ảnh với những rừng cây trụi lá

Ngôi nhà của ông Hồ Thanh Bình (sinh năm 1935) nằm yên bình dưới chân một ngọn đồi ở bản Ka Tăng, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa. Trong khu vườn rộng của mình, ông Bình đào ao thả cá, trồng thêm hoa màu để vừa ăn, vừa bán quanh năm. Chọn cho mình một lối sống sạch, lành mạnh là cách giúp ông Bình quên đi nỗi ám ảnh trong ký ức và nỗi đau bệnh tật giày vò mỗi lúc trái gió trở trời.

Trong ký ức của mình, ông Bình nhớ vào năm 1963, Mỹ bắt đầu rải CĐHH ở dọc biên giới Hướng Hóa. Tháng 8/1967, khi đơn vị ông (C19, Quân khu Trị Thiên) hành quân từ huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị vào tỉnh Thừa Thiên Huế để chuẩn bị cho chiến dịch tết Mậu Thân 68, ông lại chứng kiến trực tiếp máy bay Mỹ rải CĐHH ở khu vực huyện Triệu Phong, Hải Lăng. “Chỉ 1 tiếng đồng hồ sau khi Mỹ rải chất độc, chuối rừng ngã rạp xuống hàng loạt. Cánh rừng được bao phủ bởi cây cối um tùm, rập rạp bỗng chốc trơ trụi lá, nhìn rõ khoảng trời trong xanh bên trên. Xung quanh chúng tôi, xác những chú chim nhỏ rơi đầy. Khỉ cũng chết, cá dưới khe suối phơi mình trắng xóa. Dù đã được thông báo trước nhưng chúng tôi ai nấy đều bàng hoàng vì những gì diễn ra trước mắt mình quá nhanh và thảm khốc”, ông Bình nhớ lại. Trước đó, để đối phó với các thủ đoạn nguy hiểm của kẻ thù, với vai trò là chính trị viên của đơn vị, ông Bình đã triển khai cho anh em trong đơn vị đào hầm trú ẩn; đào giếng nước cách các khe suối 3 m và đeo khẩu trang chống độc. Vậy nhưng, do ảnh hưởng của CĐHH, ông Bình ngã lăn bất tỉnh từ 14 giờ đến 19 giờ, phải ở lại điều trị trong khi đồng đội hành quân trước.

Ông Bình có 7 người con, 3 trong số đó bị ảnh hưởng chất độc da cam, trong đó có hai người đã mất. Sau khi xuất ngũ, sức khỏe ông không tốt, vào ra bệnh viện như cơm bữa. Vì thế, ông quyết định chuyển nhà từ thị trấn Khe Sanh vào bản Ka Tăng, nơi có không khí trong lành để sinh sống.

Bà Lê Thị Mít bên người con trai bị ảnh hưởng chất độc da cam

Ông Hoàng Kim Cư (76 tuổi), ở thôn Mai Trung, xã Cam Chính là du kích xã từ năm 1964 - 1975. Vào năm 1965, ông chứng kiến 4 chiếc C130 của Mỹ rải CĐHH từ phía Tây huyện Triệu Phong đến phía Tây Nam xã Cam Chính, huyện Cam Lộ. Năm 1967, máy bay Mỹ tiếp tục một đợt rải chất độc khác về gần khu dân cư hơn. Năm 1972, trả lời phỏng vấn của phóng viên đài truyền hình Nhật Bản về tội ác của đế quốc Mỹ, ông đã mô tả thật chi tiết về các đợt máy bay Mỹ rải CĐHH xuống quê hương mình. Ông nói: Vùng Cùa (gồm hai xã Cam Nghĩa, Cam Chính của huyện Cam Lộ) vốn trù phú, bao bọc bởi cây xanh, quả ngọt. Vậy mà chỉ sau đợt rải CĐHH của Mỹ, chỉ có những loại cây có mủ mới sống sót, còn lại đều đổ rạp, khung cảnh thật tiêu điều. Thời điểm đó, người dân chúng tôi chỉ biết khuyên nhau uống thật nhiều nước đường và mía với suy nghĩ những thứ đó sẽ giúp đẩy được chất độc ra khỏi cơ thể mình.

Tất nhiên, đó chỉ là suy nghĩ của ông Cư và nhiều người dân Cam Chính khác vào thời điểm này. Về sau họ mới biết rằng thứ nước mình uống dù có ngọt đến đâu cũng không đẩy được chất độc ấy ra khỏi cơ thể nếu chẳng may bị nhiễm. “Từ năm 1970, người dân xã Cam Chính bắt đầu khôi phục sản xuất, trồng trọt. Cây cối dần xanh tươi trở lại nhưng con người thì không. Những ai đã bị nhiễm CĐHH, ngoài việc bản thân đối diện với bệnh tật, nhiều người trong số đó sinh con bị dị tật, cuộc sống cơ cực, khốn khó vô cùng”, ông Cư cho biết.

“Sinh con ra, đất ăn hết”

Ở tuổi 72, bà Lê Thị Mít ở thôn Phương An 2, xã Cam Nghĩa, vẫn nhọc nhằn chăm cho cậu con trai Nguyễn Văn Trường (sinh năm 1988). Hơn 33 tuổi, Trường còn thua một đứa trẻ lên 3 khi mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào ba mẹ già yếu. Bà Mít chua xót nói: “Sinh 4 người con, 3 đứa bị nhiễm chất độc da cam đã mất 2, còn đứa con tật nguyền này không biết có đi trước cha mẹ cho đỡ khổ hay không. Người ta đẻ con để được cậy nhờ, tôi đẻ con ra, đất ăn hết”.

Tuổi già, sức yếu nên việc chăm sóc người con trai khuyết tật này với bà thật vất vả. Vậy nhưng, bà lại làm phép so sánh: “Giờ cực một thì trước đây, khi chăm một lúc 3 đứa con tật nguyền còn khổ gấp trăm, ngàn lần. Nhà không có nổi một chiếc giường vì có sắm thì cũng bị các con phá. Suốt ngày người chúng đỏ quạch một màu đất. Thằng thứ 2 còn có tật cắn tay nên tui phải trói lại, khó chịu, nó gào thét suốt đêm ngày. Không đêm nào vợ chồng tui tròn giấc”.

Vậy nhưng, sâu thẳm trong lòng người mẹ này, nỗi ám ảnh lớn nhất lại nằm ở cậu con trai lành lặn. Đến tuổi trưởng thành, nhà neo người, thời điểm đó lại phải chăm sóc hai người con khuyết tật nhưng bà một mực giục con vào Tây Nguyên lập nghiệp, chỉ vì một lý do: “Ở quê, nhìn gia cảnh này, ai dám lấy con”. May mắn thay, những đứa cháu nội của bà sinh ra đều lành lặn, là niềm an ủi duy nhất cho cuộc đời héo hon muộn phiền của vợ chồng bà. Nhưng nỗi đau vì sinh ra những đứa con không lành lặn không phải là câu chuyện của riêng gia đình bà Mít. Bà kể: “Nhà ông Kỷ có con gái bị dị dạng; nhà ông Dương cũng có hai người (một người đã mất); ông Lưu Sinh có người con gái sinh ra chỉ có một mắt. Sau này, nhiều người mới biết về chất độc này chứ trước đây chỉ biết trách số phận. Sau chiến tranh, một số người dân trong xã còn sử dụng thùng đựng CĐHH để làm thùng đựng gạo ăn hằng ngày...”.

Ông Trâm ngậm ngùi: “Thứ chất độc hóa học này nằm đâu đó trong lòng đất, biết làm sao mà tránh. Nay vợ chồng tui sức cùng, lực kiệt rồi nhưng cũng phải gắng thôi, như đã gắng nuôi 4 đứa con suốt mấy chục năm nay”.

Thấy có người lạ đến, 4 người con bị nhiễm chất độc da cam của vợ chồng ông Trần Văn Trâm (sinh năm 1949) và bà Trần Thị Dần (sinh năm 1950), thôn Tân Hòa, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ bò từ trong nhà ra. Nhìn con dàn thành hàng dọc, ông Trâm buồn rầu nói: Ngày mô chúng cũng ra đây “tắm nắng” vài lượt, có khi ra rồi đứng mãi đó không vào, mà nắng mùa hè ở đây thì cháy da, cháy thịt. Bà Dần không để khách hỏi, chỉ vào từng đứa con giới thiệu: Thằng lớn nhất là Trần Văn Luận, sinh năm 1976; tiếp là Trần Văn Hoàng, sinh năm 1983; đứa con gái là Trần Thị Lũy, sinh năm 1985 và thằng út là Trần Văn Lãm, sinh năm 1989. Thỉnh thoảng có người đến, tui phải gọi tên con cho đỡ nhớ. Rồi bà rươm rướm nước mắt: “Đặt tên để có mà ghi vào giấy khai sinh chứ ngoài ra không biết để làm gì vì gọi con không nghe, nói con cũng không hiểu”.

Năm 1970, đứa con đầu lòng của bà Dần vừa sinh ra đã mất. Tiếp đó bà sinh đứa thứ hai lành lặn, đến đứa thứ 3 chậm bò, chậm lật nhưng hồi đó, cuộc sống khó khăn nên bà không có điều kiện đưa con đi khám. Không khám, không biết mình bị nhiễm CĐHH nên bà cứ đẻ gắng. “Mỗi bữa 4 đứa con tui ăn 5 lon gạo, không chỉ ăn khỏe, chúng quậy cũng khỏe luôn. Vợ chồng tui già rồi, chỉ sợ không đủ sức lo cho các con về sau”, bà Dần rưng rưng nói.

Ngôi nhà nhỏ nằm khuất sau con ngõ dài của vợ chồng ông Trâm thật bình yên. Vậy nhưng cuộc sống sau đó thì không yên bình chút nào.Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, có rất nhiều ngôi nhà không bình yên như thế vì chất độc da ca

Bài III

Chung tay vì nạn nhân chất độc da cam

- Những năm qua, tỉnh Quảng Trị đã triển khai đồng bộ các giải pháp khắc phục hậu quả chất độc hóa học (CĐHH) do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, trong đó tập trung vào hoạt động khắc phục, xử lý môi trường và hỗ trợ sinh kế, chăm sóc sức khỏe để giúp nạn nhân da cam (NNDC) vươn lên hòa nhập cuộc sống. Dù đạt được những kết quả đáng ghi nhận song thực tế cuộc sống của NNDC trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức.

Phút giây hạnh phúc của anh Phan Tiến Phong bên các con

Nâng bước những phận đời kém may mắn

Ông Lương Văn Kiến ở Khu phố 7, Phường 1, thành phố Đông Hà có 4 người con gái thì 2 người bị tật nguyền bẩm sinh do ảnh hưởng của CĐHH là Lương Thị Quỳnh Như (sinh năm 2009) và chị gái Lương Thị Thúy Ngọc (sinh năm 1994).

Tuy nhiên, nhờ luyện tập phục hồi chức năng (PHCN) mà Như - vốn bị bệnh tim và thiểu năng trí tuệ bẩm sinh đã tự đi lại và biết chăm sóc bản thân. Hiện Như đang học tại Trường Trẻ em Khuyết tật tỉnh. Cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Thị Thu Hà nhận xét: “Từ một trẻ thiểu năng trí tuệ nặng, giờ Như có thể nhận biết và gọi tên cô giáo, ba, mẹ. Em cũng đã bắt đầu hiểu khi nghe mọi người xung quanh trò chuyện. Đặc biệt, thời gian gần đây em rất thích được phụ cô giáo làm các việc vặt và tham gia chơi đùa cùng các bạn... Đó là dấu hiệu rất tích cực để em hòa nhập cộng đồng”.

Nạn nhân da cam Lương Thị Quỳnh Như tiến bộ từng ngày sau phục hồi chức năng

Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện có 5 đơn vị nuôi dạy, PHCN dành cho người khuyết tật và NNDC. Nhờ những trung tâm này, hàng trăm trẻ em bị khuyết tật, trong đó phần lớn là NNDC trên địa bàn Quảng Trị được can thiệp PHCN cơ bản để tự chăm sóc bản thân, giúp gia đình các em được chia sẻ bớt gánh nặng, có thời gian phát triển kinh tế, cuộc sống nhờ vậy dần được cải thiện.

Những năm qua, Hội Người khuyết tật, NNDC, Bảo trợ người khuyết tật và Bảo vệ quyền trẻ em tỉnh huy động trên 30 tỉ đồng từ các tổ chức, cá nhân ủng hộ NNDC. Từ nguồn kinh phí trên hội tặng hơn 35.000 suất quà, hơn 500 chiếc xe lăn, xe lắc, hỗ trợ phẫu thuật chỉnh hình, khám chữa bệnh miễn phí, xây dựng trên 50 nhà tình thương và hỗ trợ vốn mua các loại con giống cho gia đình NNDC phát triển sản xuất…

Ngoài PHCN, một số NNDC trên địa bàn tỉnh hỗ trợ vốn chăn nuôi bò theo hình thức quay vòng. Với nguồn quỹ ban đầu gần 1,3 tỉ đồng. Hội Người khuyết tật, NNDC, Bảo trợ người khuyết tật và Bảo vệ quyền trẻ em đã cho 58 hộ gia đình ở 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng vay không tính lãi mua 58 con bò giống. Số bò trên đã sinh sản nâng tổng đàn lên 151 con, sau này một số hộ đã bán bò để trang trải cuộc sống nên số lượng đàn bò hiện tại còn 73 con. Qua khảo sát nhu cầu, giai đoạn 2, Hội dùng số vốn thu hồi từ những hộ trên để hỗ trợ 70 hộ NNDC khác mua bò giống chăn nuôi, phát triển sinh kế, xóa đói, giảm nghèo.

“Xanh hóa” những vùng đất chết

Nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của CĐHH đến môi trường sinh thái, những năm qua tỉnh Quảng Trị đã huy động các nguồn lực để khắc phục, xử lý môi trường bằng việc “xanh hóa” những vùng đất trống, đồi núi trọc.

Theo ông Nguyễn Trường Khoa, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Giai đoạn 2013 - 2019, tỉnh Quảng Trị đã triển khai các hoạt động phục hồi hệ sinh thái và trồng rừng trên vùng đất trống, đồi núi trọc nói chung và vùng nhiễm CĐHH nói riêng thông qua dự án Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học Tiểu vùng Mê Kông mở rộng giai đoạn 2 ở địa bàn huyện Đakrông, Hướng Hóa với tổng diện tích trồng rừng là gần 1.400 ha. Đồng thời, tỉnh thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng nhằm huy động các nguồn lực từ doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và người dân tham gia trồng, bảo vệ rừng, phục hồi sinh thái, giảm dần diện tích đất trống, đồi trọc, đặc biệt là các khu vực từng bị nhiễm CĐHH.

Năm 1989, diện tích đất có rừng toàn tỉnh Quảng Trị là 98.626 ha, độ che phủ 19,5%, đến nay tăng lên trên 250.000 ha, độ che phủ rừng đạt 50,1%. Hiện Quảng Trị là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về trồng rừng nguyên liệu và chế biến gỗ rừng trồng cũng như rừng được cấp chứng chỉ FSC. Những con số trên là minh chứng sinh động về sự hồi sinh trên vùng đất lửa, trong đó có các khu vực từng bị phun rải CĐHH nay đã phủ xanh bởi những cánh rừng...​

Vẫn còn nhiều trăn trở...

Những ngày này, anh Phan Tiến Phong (sinh năm 1979) ở thôn Nhan Biều, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, cảm thấy rất phấn chấn khi biết cuộc chiến pháp lý chống lại các công ty hóa chất quốc tế đã sản xuất chất độc da cam rải xuống Việt Nam của bà Trần Tố Nga (78 tuổi) được khởi động trở lại vào ngày 25/1/2021 tại Toà án vùng EvryCourcouronnes, tỉnh Essonne, Cộng hòa Pháp.

Chị Lê Thị Hoa luôn quan tâm việc học của con gái

7 năm trước, anh Phong là đại diện cho hàng nghìn NNDC ở Quảng Trị viết tâm thư góp tiếng nói cùng bà Trần Tố Nga khởi kiện các công ty hóa chất Mỹ. Anh Phong bị nhiễm chất dioxin từ ba (ông là người đã tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị) nên khi sinh ra bị dị tật teo tay và chân trái. Mặc dù rất nỗ lực, may mắn mới lập được gia đình và sinh 3 đứa con khỏe mạnh như ngày hôm nay nhưng nỗi đau da cam vẫn luôn hiện hữu trên cơ thể anh. Anh Phong chia sẻ: “So với nhiều NNDC khác, tôi vẫn còn may mắn hơn. Vậy nhưng với những di chứng này, tôi rất đau đớn vì bệnh tật quanh năm và vất vả để mưu sinh”.

Đúng như chia sẻ của anh Phong, những NNDC tuy bị ảnh hưởng ở mức độ nặng nhẹ khác nhau đều gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Với số lượng 9.016 NNDC trên địa bàn tỉnh nhưng hiện có trên 5.000 người đang hưởng chế độ, chính sách theo các nhóm xã hội đặc thù về bảo trợ xã hội, người khuyết tật với mức hỗ trợ từ 270.000 - 675.000 đồng/người/tháng, tùy theo tỉ lệ khuyết tật. Khoản hỗ trợ trên tương đối thấp so mới mức sống hiện nay, trong khi đối tượng này thường xuyên đau ốm, bệnh tật nên kinh tế kiệt quệ. Việc hỗ trợ sinh kế bền vững cho NNDC cũng là một thách thức không nhỏ vì hầu hết NNDC đều lâm vào bệnh tật, không đủ sức khỏe nên khó có thể học nghề hay tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất để tạo ra những mô hình kinh tế hiệu quả rõ rệt.

Kinh phí duy trì hoạt động các trung tâm PHCN ở Quảng Trị cũng là một bài toán khó. Điển hình như Trung tâm PHCN Cam Nghĩa (huyện Cam Lộ) thành lập ngày 16/4/2008. Sau 13 năm đi vào hoạt động, nguồn kinh phí hỗ trợ của các nhà hảo tâm được trích lại để trả lương cho nhân viên chỉ còn đến khoảng tháng 7/2021. Sau thời gian này nếu không có nguồn hỗ trợ tiếp thì trung tâm sẽ không còn kinh phí để hoạt động.

Theo ông Phạm Văn Mạnh, Phó Chủ tịch Hội Người khuyết tật, NNDC, Bảo trợ người khuyết tật và Bảo vệ quyền trẻ em huyện Cam Lộ, dù được xã hội quan tâm nhưng thực tế hộ gia đình có NNDC trên địa bàn đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sức khỏe yếu, mức sống thấp so với mặt bằng chung của xã hội nên các hoạt động hỗ trợ để giúp họ ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng cần duy trì thường xuyên, liên tục. Để tiếp tục làm được điều này, tổ chức hội không thể đơn phương thực hiện mà cần sự chung tay hành động của toàn xã hội.

Bài IV

Vượt lên số phận

- Nhờ sự hỗ trợ của cộng đồng và nỗ lực của bản thân, nhiều nạn nhân chất độc da cam ở Quảng Trị đã biết vượt qua khó khăn, bệnh tật để từng bước xây dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp hơn. Họ có thể là người thợ lái máy xúc, là vận động viên khuyết tật hay là một người mẹ tần tảo buôn bán sớm hôm để vun vén cho gia đình và đứa con thơ. So với người bình thường, những nạn nhân chất độc da cam mà chúng tôi có dịp tiếp xúc dưới đây đã phải nỗ lực gấp nhiều lần để có được như ngày hôm nay.

“Không để hoàn cảnh làm nhụt ý chí phấn đấu”

Nếu không được giới thiệu trước rằng anh Lê Văn Trung (sinh năm 1977), thôn Thủy Ba Đông, xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh là một nạn nhân chất độc da cam/dioxin, bị khuyết tật bẩm sinh ở chân trái, có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết công việc khá nặng nhọc anh đang làm là lái máy xúc công trình. Bố anh từng là du kích, mẹ là thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mỹ, khi mới sinh ra, Trung đã không được lành lặn như đứa trẻ bình thường. Học hết lớp 6, do sức khỏe yếu, cộng với hoàn cảnh gia đình khó khăn, anh Trung nghỉ học.

Anh Lê Văn Trung mua sắm được máy xúc để nhận thi công các công trình

Vốn đam mê, hứng thú với các loại máy móc như máy ủi, máy cày…, đến năm 1998, anh Trung quyết định theo học bằng lái máy xúc, dù với anh không hề dễ dàng gì. Khi đã có nghề, ba mẹ anh cầm cố mảnh đất hương hỏa, vay mượn được một số vốn để anh Trung đầu tư mua xe công nông, máy xay xát lúa và máy cày để làm dịch vụ. Chăm chỉ làm ăn, chỉ vài năm sau, khoản vay ngân hàng đã được anh Trung trả hết. Năm 2007, anh tiếp tục vay thêm 300 triệu đồng, cộng với số tiền tích cóp được để mua máy xúc, máy ủi, xe vận chuyển máy xúc.

Đến nay, giàn máy móc của anh không chỉ hoạt động hiệu quả ở Quảng Trị mà còn được nhiều người ở các tỉnh khác thuê làm công trình, mang lại nguồn thu nhập trung bình mỗi năm khoảng 400 triệu đồng. “So với nhiều nạn nhân da cam khác, tôi may mắn hơn nhiều. Tôi nghĩ, mình bị khuyết tật ở chân nhưng trí óc lành lặn thì không có lý gì để hoàn cảnh làm nhụt ý chí phấn đấu. Nghĩ vậy nên tôi luôn nỗ lực làm kinh tế, vừa có điều kiện lo cho gia đình, vừa giải quyết việc làm cho những người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là người khuyết tật, người nhiễm chất độc da cam”, anh Trung chia sẻ.

Ngoài tích cực tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương, anh Trung còn tự nguyện đem máy móc sửa chữa đường giao thông nông thôn, ủng hộ vật chất cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ, phong trào khuyến học, khuyến tài của xã.

“Thể thao cho em nhiều mơ ước”

Lê Thị Trường An (sinh năm 1999), ở Tiểu khu 2, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong tuy nói năng không lanh lợi, phản ứng chậm, nhưng em biết diễn đạt suy nghĩ của mình, hiểu và trả lời tốt những câu hỏi của người khác. Bà Phan Thị Thắm, mẹ An sinh được 4 người con, mỗi An là bị khiếm khuyết. “Ngày sinh cháu, gần một tuổi vẫn không thấy có sự phát triển bình thường như những đứa trẻ khác, đầu, thân hình, chân tay mềm oặt, tôi lo lắm. Lên ba, bốn tuổi rồi mà cháu vẫn chậm nói, chậm đi, chúng tôi đem con đi chạy chữa khắp nơi, cho đến một ngày bác sĩ kết luận cháu bị ảnh hưởng chất độc da cam. May mắn là càng lớn sức khỏe của cháu càng được cải thiện, đi lại bình thường”, bà Thắm nhớ lại.

Ngoài năng khiếu thể thao, niềm đam mê của Trường An là học vẽ tranh

Năm An 14 tuổi, các cô chú ở Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Triệu Phong gợi ý gia đình cho cháu tập luyện để tham gia hội thao người khuyết tật. Ban đầu, An làm quen với môn đẩy tạ, sau đó nhận thấy em có thể chất tốt, các huấn luyện viên hướng tập luyện thêm cho em môn điền kinh. Từ những rụt rè, bỡ ngỡ ban đầu khi phải tiếp xúc với nhiều người lạ, dần dà, những buổi tham gia tập luyện đã làm em trở nên hào hứng. “Tập với các cô chú huấn luyện viên chưa đủ, hằng ngày cháu dặn mẹ gọi dậy sớm để chạy bộ rèn luyện thêm. Thấy con nghiêm túc với việc tập luyện, tôi cũng thấy vui vì cháu có ý thức, trách nhiệm với việc của mình”, bà Thắm kể.

Đến nay, Trường An đã giành được 2 huy chương bạc, một huy chương đồng cho các môn đẩy tạ, điền kinh trong các giải thể thao người khuyết tật cấp huyện, cấp tỉnh. Những đợt tham gia tập luyện để đi thi đấu, nhiều lúc An rất đuối, nhức mỏi tay chân, sút cân vì áp lực, nhưng chưa bao giờ em bỏ cuộc. Có lần tham gia giải thể thao người khuyết tật cấp tỉnh môn điền kinh, do tâm lý không tốt nên chỉ sau khi xuất phát một đoạn, An chạy nhầm sang làn khác. Kết quả dù về đích sớm nhưng em không được tính thành tích, chỉ được ban tổ chức tặng một bó hoa động viên. Nhưng em rất phấn khởi vì có phần thưởng mang về tặng mẹ. “Từ khi đến với thể thao, sức khỏe em tốt hơn, được gặp nhiều người hơn và có nhiều ước mơ hơn”, An chia sẻ.

Lấp đầy khiếm khuyết cơ thể bằng tình yêu

Cách nhau 10 tuổi, nhưng kỳ lạ là cả hai chị em Lê Thị Hoa (sinh năm 1984), Lê Thị Nhơn (sinh năm 1974), ở thôn Kim Đâu, xã Thanh An, huyện Cam Lộ đều bị dị tật cơ thể như nhau, sinh ra không có chân tay lành lặn, không phát triển về chiều cao, may mắn là trí óc bình thường. Dù vậy, chị em Hoa đều có niềm lạc quan vui sống, chăm chỉ lao động để có thu nhập tự nuôi bản thân mình, không trở thành gánh nặng của gia đình. Bằng lòng với số phận không may mắn, chưa bao giờ họ nghĩ đến chuyện có ai đó yêu thương để gắn bó với cuộc đời mình.

“Ngay cả trong giấc mơ mình cũng chưa bao giờ nghĩ sẽ lấy chồng và sinh con. Với mình, gia đình riêng là điều gì đó rất xa vời”, Hoa chia sẻ. Thế nhưng, như một sự kỳ diệu của cuộc đời, Hoa đã có một gia đình hạnh phúc, sinh cô con gái khỏe mạnh, nay đã học lớp 1. Kể lại câu chuyện tình yêu như cổ tích của mình, Hoa bộc bạch: “Mình và anh Lai quen nhau 8 năm rồi mới quyết định về ở với nhau. Ban đầu, hai bên gia đình phản đối lắm, ba mẹ mình cứ sợ con bị lừa tình cảm, vì anh Lai là người bình thường, khỏe mạnh, lại chưa lập gia đình và nhỏ hơn mình đến 3 tuổi, ai mà nghĩ là anh ấy yêu một cô gái khuyết tật nặng như mình”.

Chị Lê Thị Hoa luôn quan tâm việc học của con gái

Mới đây, từ nguồn quỹ hỗ trợ của Hội Người khuyết tật, Nạn nhân da cam, Bảo trợ người khuyết tật, Bảo vệ quyền trẻ em Quảng Trị cộng với số tiền tích cóp, vay mượn, hai vợ chồng chị Hoa đã xây một ngôi nhà nhỏ để ở. “Khi mình làm đơn vay vốn để làm nhà, không ai dám chứng nhận để cho vay vì nhìn hoàn cảnh thực tế, họ sợ mình không có khả năng trả nợ. May mắn là có chú trưởng thôn đứng ra cam kết bảo lãnh vì chú tin dù là người khuyết tật nhưng mình chăm chỉ làm ăn, có khả năng trả nợ ngân hàng. Mình rất biết ơn vì điều đó”, chị Hoa cho biết.

Ngoài gian hàng tạp hóa, chị Hoa còn tận dụng kênh bán hàng online qua trang facebook cá nhân để mở rộng khách hàng. Khi được hỏi có nguyện vọng gì không, Hoa nói mong muốn có vốn để mở rộng việc kinh doanh, nhưng có lẽ việc vay vốn với người khuyết tật vẫn còn quá khó.

Những người không may mắn mà chúng tôi gặp trên đã và đang dệt nên câu chuyện ý nghĩa cho cuộc đời mình. Dù cuộc đời không ban tặng cho họ một cơ thể lành lặn, bình thường nhưng lại cho họ một nghị lực sống phi thường để làm được những việc có ích cho bản thân, cho cuộc đời. Những con người ấy đáng trân quý biết bao.

Nhóm tác giả: Lâm Thanh, Hoài Hương, Thanh Trúc