Thứ ba, 30/03/2021 | 10:23

BÀI DỰ THI: Nơi ấy chiến tranh chưa kết thúc

Bốn sáu năm qua, Tổ quốc ta đã im tiếng súng, nhưng ở đâu đó vẫn còn những góc khuất mà ở đó chiến tranh dường như chưa bao giờ kết thúc. Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã để lại những vết thương đau đớn khôn nguôi. Một trong số đó là di chứng của chất độc da cam/dioxin. Trong cuộc hội thảo quốc tế về chất độc da cam/dioxin do Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam tổ chức tại Hà Nội tháng 8 năm 2016, lần đầu tiên hơn 100 nhà khoa học quốc tế mới thống nhất được kết luận: Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, từ năm 1961 đến năm 1971, núp dưới tên gọi là chất diệt cỏ hay chất làm rụng lá, Quân đội Mỹ đã phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học, 61% trong đó là chất da cam, chứa 366 kg dioxin xuống các vùng ở miền Nam Việt Nam, gồm các làng bản và gần 3 triệu héc-ta rừng. Mật độ phun rải trung bình vượt gấp khoảng 17 lần mật độ cho phép sử dụng trong nông nghiệp của Mỹ, trong đó hầu hết các mục tiêu đều bị phun rải 2 lần và 11% bị phun rải 10 lần”.

“Các hóa chất độc đó đã tàn phá môi trường, khiến các hệ sinh thái bị hủy hoại nặng nề; khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm, gần 3 triệu người là nạn nhân chất độc da cam/dioxin; hàng trăm nghìn người đã chết, những nạn nhân còn sống đang phải vật lộn với các căn bệnh hiểm nghèo; di chứng chất độc da cam đã truyền đến thế hệ con, cháu, chắt của họ. Hàng vạn người bị tước quyền làm cha mẹ. Hàng triệu trẻ em sinh ra nhưng không được làm người”.

Phát biểu tại hội nghị này, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam nhấn mạnh: “Người Việt Nam không sản xuất, không đi mua, không nhập khẩu, không rải chất da cam ở Việt Nam, nhưng người Việt Nam đang và tiếp tục là nạn nhân của thứ chất độc chết người này”. Phó Thủ tướng kêu gọi sự hợp tác, chia sẻ của cộng đồng quốc tế, các nhà khoa học, mỗi quốc gia, từng tổ chức, cá nhân “bằng tiếng nói của khoa học, lương tâm, sự thật” nhằm khép lại quá khứ, hướng tới tương lai không còn chiến tranh, trong đó có những cuộc chiến tranh sử dụng chất độc hóa học. Và để tất cả những nạn nhân của chiến tranh, đặc biệt là những NNCĐDC được hỗ trợ, được trả lại công bằng”.

Trên khắp đất nước Việt Nam, hàng vạn gia đình đã bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam/dioxin. Không những bản thân người phơi nhiễm chất độc này bị ảnh hưởng sức khỏe mà chất dioxin còn tác động, di truyền đến con cháu của họ. Xin kể về một gia đình như vậy, đó là gia đình thương binh hạng ¼ Nguyễn Hữu Bình, thường trú tại thôn Tiên Trượng - thị trấn Xuân Mai - huyện Chương Mỹ - TP. Hà Nội.

Nguyễn Hữu Bình, sinh năm 1952, trong một gia đình nông thôn vùng ven thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây cũ), đến tuổi nhập ngũ mà vóc dáng chàng thanh niên Nguyễn Hữu Bình chỉ nhỉnh hơn một thiếu niên. Để đủ điều kiện nhập ngũ, ông đã khai tăng một tuổi và lận vào lưng quần 2 viên gạch lục. Ông được toại nguyện. Ngày 28/12/1970 ông nhập ngũ, thuộc biên chế Sư đoàn 320B huấn luyện ở Nho Quan (Ninh Bình). Hợp cơm lính, ông tăng cân, khỏe khoắn và chững chạc hẳn ra. Sau thời gian huấn luyện tại Nho Quan, ngày 24/6/1971 đơn vị ông được lệnh hành quân vào mặt trận Bình Trị Thiên. Đây là thời kỳ Quân đội Mỹ đánh phá ác liệt. Trong trận đánh vào căn cứ địch ở Đồi Không tên thuộc huyện Hải Lăng (Quảng Trị), ông bị thương vào đầu. Mảnh đạn xuyên qua chiếc mũ cứng, gây một vết thương trước trán, chiếc mũ đã cứu mạng ông. Vết thương lành, ông tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu dọc ngang vùng Bình Trị Thiên khói lửa, qua những vùng đất bị phun rải chất độc da cam, bị tàn phá nặng nề.

Hòa bình lập lại, năm 1976 ông được phục viên trở về quê hương. Ông đã kết duyên với bà Nguyễn Thị Hà, một thôn nữ dịu hiền, kém ông 6 tuổi. Ông đi rừng còn bà làm ở hợp tác xã nông nghiệp. Những đứa trẻ lần lượt ra đời và đó cũng là lúc con quỷ dioxin thể hiện quyền lực của nó.

Em Nguyễn Hữu Bàu, sinh năm 1979, mất năm 1980 vì chứng phù não; em Nguyễn Văn Dương, sinh năm 1984, mất năm 1987 vì chứng phù thận và Em Nguyễn Văn Hiên, sinh năm 1987, mất năm 1995 vì bị đuối nước.

Cả ba em Bàu, Dương, Hiên đều có những biểu hiện rối loạn phát triển, kém phát triển trí tuệ, một đặc điểm mà sau này chúng ta đều biết đó là di chứng của chất độc da cam. Buồn hơn nữa, là em Nguyễn Văn Hiên còn mắc chứng xương thủy tinh, đã hai lần bị gãy tay chân chỉ vì những cú va chạm nhẹ. Tuy vậy, vào những năm đó, ông bà đâu biết thế nào là tác hại của chất độc da cam. Họ chỉ đơn giản nghĩ rằng đó là sự thiếu may mắn của những đứa trẻ và của gia đình. Họ hàng làng xóm người bảo tại miếng đất ở dữ, khuyên ông bà chuyển nhà; người nói do phần âm có vấn đề, phải cầu cúng lễ bái mới qua. Có bệnh thì vái tứ phương và đây là một giai đoạn cực kỳ khó khăn của gia đình ông bà cả về vật chất lẫn tinh thần.

Thời gian khoảng 20 năm trở lại đây, ông yếu dần và yếu đi rất nhanh. Vết thương cũ khiến ông đau đớn khi trái gió, trở trời, những trận sốt rét rừng năm xưa quay lại hành hạ. Ông mất dần sức lao động và tiền thuốc men ngày càng tốn kém hơn. Đồng đội cũ đến thăm hỏi, nhiều người khuyên ông xin lại giấy tờ để làm hồ sơ xác nhận chế độ cho người tham gia chiến đấu, ông xách ba lô tìm về Sư đoàn 324, Quân khu 4. Năm 1986, ông giám định, mất sức lao động 21%, là thương binh Hạng 4/4, được hưởng các chế độ phụ cấp thương tật theo quy định hiện hành. Rồi theo lời khuyên, hướng dẫn của mọi người, ông cũng làm hồ sơ xin xác nhận để được hưởng chế độ dành cho NNCĐDC. Tuy nhiên, khi xem xét hồ sơ thì cơ quan TBXH huyện Chương Mỹ (Hà Nội) trả lời ông không đủ điều kiện được hưởng loại chế độ này vì bệnh của ông không thuộc diện 16/17 loại bệnh trong danh mục mà Thông tư liên tịch số 20/2016/TTLT-BYT-BLĐTBXH quy định, chỉ còn mục 14 - bất thường sinh sản (unusual birth), nhưng ba đứa con chậm phát triển trí tuệ là các em Bàu, Dương, Hiên đều mất đã lâu nên đến nay chẳng còn gì để chứng minh.

Cán bộ giáo viên Khoa Khoa học Cơ bản – Trường Sĩ quan Đặc công, thăm và tặng quà ông Nguyễn Hữu Bình

Ba người con khác của ông bà, một trai hai gái đã may mắn hơn các anh em của chúng, đều là những đứa trẻ bình thường. Tuy nhiên, sinh ra và lớn lên trong gia cảnh khó khăn như thế nên chuyện học hành của họ đều không đến nơi, đến chốn. Giờ đây, hai ông bà đều đã già yếu và không còn sức lao động. Mỗi năm ông vài lần đi viện. Số tiền trợ cấp thương tật 1,094 triệu đồng hằng tháng không đủ tiền thuốc cho ông, đành nhờ cậy vào thu nhập ít ỏi của ba người con, mà họ thì cũng chẳng khá giả gì cho lắm. Cuộc sống riêng của hai đứa con ông, đứa út và áp út cũng rất mệt mỏi bởi những thiếu may mắn của riêng họ không tiện kể ra ở đây. Và cũng chẳng ai bỏ cái thẻ thương binh để hưởng chính sách dành cho hộ nghèo 1,4 triệu đồng một tháng, còn cao hơn cả trợ cấp thương tật mà ông đang được hưởng. Hiện nay, ông Bình mang trên người căn bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính COPD, huyết áp lên xuống thất thường cùng những cơn sốt rét rừng và chứng đau đầu kinh niên. Vẫn còn đó vài mảnh đạn trong người ông. Thế nhưng, mỗi lần kể chuyện chiến trường ông như trẻ lại, hồi ức về đồng đội, về những trận đánh trở lại trong nụ cười giờ đã khàn đục và ngắt quãng bởi những cơn ho. Chia tay ông ra về, chúng tôi thấy trong đôi mắt đã không còn tinh anh kia thấm đẫm một nỗi buồn không nói hết bằng lời, nỗi buồn mang tên da cam/dioxin! Gía như các cơ quan hữu quan, có thẩm của nhà nước mình có thể sửa đổi những bất hợp lý trong việc triển khai thực hiện chế độ chính sách cho các NNCĐDC để cuộc sống của ông bà và những gia đình có hoàn cảnh tương tự bớt được phần nào những khó khăn giúp họ vươn lên hòa nhập cộng đồng./.

Phạm Văn Quang - Phạm Tiến Sỹ