Thứ hai, 13/07/2020 | 14:05

Cần tháo gỡ những nút thắt trong công tác giải quyết chế độ người có công

Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, đó là đạo lý của dân tộc Việt Nam. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác giải quyết chế độ cho người có công với cách mạng, trong đó có người có công bị nhiễm CĐHH, thể hiện cụ thể bằng các văn bản sau:
Chỉ thị 43-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giải quyết hậu quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam” đã chỉ rõ: “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, thực hiện đầy đủ chính sách đối với NNCĐDC...”. Chỉ thị số 14-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng “Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng” cũng yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đối với người bị ảnh hưởng bởi CĐHH thuộc thế hệ thứ ba của người tham gia kháng chiến. Quyết định số 651/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch hành động Quốc gia khắc phục hậu quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, xác định mục tiêu cụ thể: 100% số người hoạt động kháng chiến và con, cháu của họ bị nhiễm CĐHH được hưởng chính sách ưu đãi người có công...”. Tuy nhiên cho đến nay vẫn tồn tại một số quy định bất cập, cản trở công tác giải quyết chế độ cho người có công, gây nên những bức xúc trong xã hội. Cụ thể là:
1. Về công tác giải quyết chế độ cho người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8/1945. Trong hướng dẫn số 30-HD/BTCTW của Ban Tổ chức TW, hướng dẫn về điều kiện, căn cứ và quy trình xét công nhận... Mục 3.2.1 ghi: “Căn cứ để xét, công nhận là lý lịch của cán bộ đảng viên khai từ năm 1969 trở về trước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý. Nếu lý lịch của cán bộ đảng viên này do tổ chức để thất lạc, hoặc người được kết nạp Đảng sau năm 1969 và người hoạt động liên tục ở các chiến trường B-C-K từ năm 1954 đến ngày 30/4/1975, thì căn cứ lý lịch đảng viên khai năm 1975, 1976 theo Thông tri 297/TT-TW của Ban Bí thư để xét, công nhận. Nghị định 31/2013/NĐ-CP, ngày 9/4/2013 của Chính phủ hướng dẫn Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng... Căn cứ xác nhận: Điều 12.1.b: lý lịch đảng viên khai năm 1975, 1976 theo Thông tri 297/TT-TW của Ban bí thư TW đối với người hoạt động cách mạng được kết nạp vào Đảng sau năm 1969 và người hoạt động liên tục ở chiến trường B-C-K từ năm 1954 đến ngày 30/4/1975. Thiếu hẳn đoạn: “Căn cứ để xét, công nhận là lý lịch của cán bộ đảng viên khai từ năm 1969 trở về trước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý. Nếu lý lịch của cán bộ đảng viên này do tổ chức để thất lạc, hoặc người kết nạp Đảng sau năm 1969... thì căn cứ lý lịch đảng viên khai năm 1975,1976...”.Chính vì thế mà người nào biết và nắm được hướng dẫn số 30-HD/BTCTW, làm trước ngày 31/12/2012 thì được giải quyết chế độ; nhưng còn nhiều người đến nay chưa được giải quyết chế độ bởi vì họ làm hồ sơ sau ngày 31/12/2012.
Chúng ta đều biết rằng, lý lịch đảng viên đều do cơ quan tổ chức Đảng từ cấp Đảng ủy trở lên mới được quản lý, đảng viên không được giữ, không được tự quản lý lý lịch đảng viên của mình. Vì vậy, để thất lạc hồ sơ đảng viên là do tổ chức quản lý làm mất, tại sao có người khai lại lý lịch năm 1975, 1976 làm hồ sơ tháng 12/2012 thì được xét, còn người do biết muộn nên khai sau một tháng (tháng 1/2013) lại không được xét?
2. Đối với NNCĐDC: Có nhiều trường hợp tham gia kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường miền Nam hơn 9 năm; con, cháu của họ được hưởng chế độ nạn nhân 85% trở lên (cháu ngoại sinh ra bị dị dạng, dị tật, toàn thân teo tóp, xếp loại khuyết tật đặc biệt nặng, cháu nội bị dính ngón chân). Vậy nhưng bản họ (là bố, là ông) thì lại không được xét giải quyết chế độ CĐDC. Bởi vì chưa có văn bản nào hướng dẫn giám định lại người bị nhiễm CĐDC. Hiện nay có những trường hợp con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH đang hưởng mức 65% mất sức lao động, nhưng thực tế cháu bị bệnh nặng tới mức mất hết sức lao động, phải nằm liệt một chỗ, vẫn không được giám định lại sức khỏe để xét tăng mức hưởng trợ cấp. Trong khi đối với thương binh, thì hàng năm đều được khám giám định lại thương tật để nâng hạng thương tật...
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã kết thúc hơn 40 năm, hàng triệu người lính năm xưa sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã phục viên, trở về quê hương, về với thửa ruộng, mảnh vườn, rời tay súng lại nắm tay cày, tay cuốc lao động sản xuất, chăn nuôi, bươn trải để bảo đảm cuộc sống. Nhiều người bị ốm đau liên miên do nhiều năm bị sốt rét rừng, bị bom vùi đạn lấp, chiến tranh gian khổ ác liệt, song không rơi vào tiêu chí bệnh tật để xét hưởng chế độ người có công. Họ chỉ duy nhất được nhận tấm thẻ bảo hiểm y tế hàng năm, vì vậy rất thiệt thòi. Số cựu chiến binh trực tiếp tham gia chống Mỹ cứu nước, đến nay không còn là bao, họ vơi dần theo năm tháng. Chính vì vậy, các cơ quan chức năng nên nghiên cứu đề xuất kịp thời các chính sách để khắc phục những bất cập hiện nay, để những người có công bị nhiễm CĐDC sớm được thụ hưởng chế độ chính sách của Đảng, Nhà nước.
Nguyễn Xuân Đoán