Thứ hai, 15/07/2019 | 16:49

HƯỚNG DẪN Thực hiện một số điều của điều lệ (sửa đổi, bổ sung) hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin việt nam

Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam nhiệm kỳ 2018-2023 (sau đây gọi tắt là Điều lệ) đã kế thừa những nội dung cơ bản của Điều lệ Hội các nhiệm kỳ trước, có sửa đổi, bổ sung một số điểm nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam và về tổ chức hội quần chúng.

Điều lệ đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV thông qua ngày 05 tháng 12 năm 2018 và Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt tại Quyết định số 328/QĐ-BNV ngày 19 tháng 4 năm 2019;

Để thực hiện thống nhất trong toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương Hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam như sau:

I . Yêu cầu chung:

1. Các tỉnh, thành Hội khi nhận được Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) đã được Bộ Nội vụ phê duyệt, có văn bản báo cáo với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ) đề nghị được thực hiện theo Điều lệ của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.

2. Các tỉnh, thành Hội tổ chức phổ biến quán triệt đến các tổ chức hội và hội viên để thống nhất nhận thức và thực hiện theo quy định của Điều lệ với tư cách là Hội viên tổ chức.

II. Nội dung

A. Hội viên quy định tại Chương III.

Hội viên của Hội gồm hội viên chính thức và hội viên danh dự.

1. Điều kiện và tiêu chuẩn hội viên:

1. Hội viên chính thức:

a) Công dân Việt Nam bị tổn thương bởi chất độc da cam/dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam và công dân Việt Nam có điều kiện tham gia khắc phục hậu quả chất độc da cam/dioxin, vì lợi ích của nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

b) Các hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố ra quyết định thành lập hoạt động trong lĩnh vực xã hội nhân đạo về nạn nhân chất độc da cam/dioxin.

c) Tự nguyện gia nhập Hội và tán thành Điều lệ Hội.

d) Tự nguyện tham gia sinh hoạt, hoạt động, chịu sự quản lý của một tổ chức Hội và thực hiện nhiệm vụ của hội viên.

đ) Không vi phạm pháp luật.

2. Hội viên danh dự của Hội:

Tổ chức, công dân của Việt Nam không có điều kiện hoặc không có đủ tiêu chuẩn trở thành hội viên chính thức của Hội, nhưng có công đóng góp cho Hội, tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện xin vào Hội.

Một số điểm chú ý về hội viên, hội viên danh dự của Hội: so với Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) các nhiệm kỳ trước của Hội, lần này Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) quy định chỉ có hội viên chính thức và hội viên danh dự, do đó những người trước đây là tình nguyện viên, cộng tác viên thì căn cứ vào điều kiện cụ thể để xem xét chuyển thành hội viên chính thức hoặc hội viên danh dự.

Đối với người nước ngoài có nhiều công sức, vật chất, tài chính đóng góp cho Hội và chăm sóc nạn nhân đã được công nhận làm hội viên danh dự của Hội theo quy định tại Điều lệ nhiệm kỳ trước thì vẫn giữ nguyên là hội viên danh dự. Từ nay trở đi, theo quy định của Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) nhiệm kỳ IV của Hội, người nước ngoài có công đóng góp vật chất, tài chính và tâm sức thì ghi nhận công lao xứng đáng bằng hình thức khác mà không thực hiện việc công nhận là hội viên danh dự nữa.

2. Thủ tục, thẩm quyền kết nạp hội viên:

Các cấp hội có thẩm quyền kết nạp hội viên là Hội cấp huyện, cấp tỉnh và Trung ương Hội.

Cá nhân, tổ chức có nguyện vọng gia nhập Hội có đơn xin gia nhập Hội gửi tổ chức Hội cụ thể (cá nhân gửi tổ chức hội cơ sở cấp xã, phường; tổ chức hội tùy theo phân cấp: hội xã, phường gửi tổ chức hội quận, huyện; hội quận, huyện gửi tổ chức hội tỉnh, thành; hội tỉnh, thành gửi Hội Nạn nhân CĐDC/dioxin Việt Nam theo mẫu). Căn cứ các điều kiện, tiêu chuẩn hội viên, Ban Thường vụ Hội xem xét ra quyết định công nhận hội viên; công bố danh sách hội viên chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày ban hành quyết định. Sau khi kết nạp làm thủ tục cấp Thẻ hội viên của Hội, chậm nhất sau 3 tháng kể từ ngày kết nạp hội viên.

Những tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật, đang trong quá trình điều tra, xem xét của cơ quan pháp luật hoặc đang trong thời gian thi hành án thì không xem xét kết nạp hội viên.

3. Quản lý hội viên:

a) Nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, nguyện vọng của hội viên; hoàn cảnh bản thân, gia đình hội viên.

b) Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, giúp đỡ hội viên khi gặp khó khăn.

4. Chế độ báo cáo về tình hình hội viên:

Hàng quý, sáu tháng, một năm, các tỉnh (thành) Hội tổng hợp báo cáo Trung ương Hội số lượng hội viên phát triển (gồm cả hội viên cá nhân và hội viên tổ chức); số hội viên giảm (chết, thôi tham gia hội, lý do khác).

5. Thủ tục, thẩm quyền xét ra khỏi Hội:

- Hội viên tự nguyện ra khỏi hội: Cá nhân, tổ chức muốn xin ra khỏi hội phải làm đơn nêu rõ lý do gửi cấp hội đã ra quyết định kết nạp, công nhận làm hội viên của mình. Sau khi nhận được đơn (3 tháng đối với hội viên cá nhân, 6 tháng đối với hội viên tổ chức), cấp hội quyết định kết nạp ra quyết định cho thôi làm hội viên của hội.

- Hội viên vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Hội, quy định của Hội, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, hoặc hội viên cá nhân bị chết, hội viên tổ chức bị giải thể thì cấp Hội ra quyết định kết nạp, công nhận hội viên sẽ ra quyết định cho thôi làm hội viên của Hội.

6. Thẻ hội viên:

Trung ương Hội thống nhất ban hành hai loại: Thẻ Hội viên và Thẻ Hội viên

danh dự (mẫu thẻ hiện hành).

Căn cứ nhu cầu, tổ chức Hội cấp tỉnh có công văn đề nghị, Trung ương Hội sẽ cấp theo số lượng phát triển hội viên 6 tháng, một năm.

B. Tổ chức hoạt động của Hội

1. Về tổ chức Đại hội: Thực hiện theo quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; quy định tại Điều 2, Thông tư số 03/2013/TT-BNV ngày 16/4/2013 của Bộ Nội vụ.

2. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội, Thường trực Hội, Ban Kiểm tra: thực hiện theo Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành.

3. Văn phòng và các Ban chuyên môn của Trung ương Hội:

Văn phòng, các ban chuyên môn chịu trách nhiệm tham mưu, giúp việc Thường trực, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, Điều lệ Hội, Nghị quyết, Quyết định của Ban Thường vụ, điều hành hoạt động giữa hai kỳ đại hội.

Văn phòng, các ban chuyên môn tổ chức, hoạt động theo Quy chế do Ban Thường vụ ban hành, tuân thủ quy định của pháp luật và Điều lệ Hội. Chủ tịch Hội ký quyết định thành lập các ban chuyên môn, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm lãnh đạo (cấp trưởng, cấp phó) của Văn phòng, các Ban chuyên môn theo quy định của Điều lệ, Quy chế của Ban Thường vụ Hội và quy định của pháp luật.

Người làm việc tại văn phòng, văn phòng đại diện, các ban chuyên môn của Trung ương Hội được tuyển dụng, quản lý, sử dụng theo quy định của Bộ luật Lao động, các quy định pháp luật khác có liên quan và Điều lệ Hội.

Kinh phí hoạt động của hội do Chủ tịch Hội chỉ đạo xây dựng dự trù hàng năm, trình Ban Thường vụ Hội phê duyệt theo quy định pháp luật và theo Điều lệ Hội.

C. Tài chính, tài sản của hội quy định tại Chương VI Điều lệ

Việc quản lý sử dụng tài chính, tài sản của hội thực hiện theo Quy chế của Ban Chấp hành Hội.

D. Về Khen thưởng và kỷ luật quy định tại chương VII Điều lệ

Việc khen thưởng, kỷ luật thực hiện theo Quy chế Khen thưởng – Kỷ luật

của Ban Chấp hành Hội.

Trên đây là hướng dẫn cụ thể thực hiện một số điều của Điều lệ Hội (sửa đổi, bổ sung). Trong quá trình áp dụng thực hiện, các tỉnh, thành Hội kịp thời phản ảnh những vướng mắc (nếu có) về Trung ương Hội để tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn bổ sung.