Thứ tư, 27/01/2021 | 08:54

BÀI DỰ THI: Di chứng da cam, nỗi đau và trách nhiệm của chúng ta

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ không chỉ dùng các loại bom, đạn gây thương vong cho con người mà còn sử dụng cả chất độc hóa học đã để lại những di chứng nặng nề cho hơn 3 triệu nạn nhân và hơn 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm.

Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã thực hiện 19.905 phi vụ phun rải 80 triệu lít chất độc hóa học (61% là chất da cam, trong đó có khoảng 366 kg dioxin). Các hóa chất này, rải xuống 26.000 thôn, bản, trên diện tích 3,06 triệu ha (bằng ¼ tổng diện tích đất đai miền Nam Việt Nam); có 86% diện tích bị phun rải 2 lần, 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy: Chất độc da cam/dioxin có khả năng gây tổn thương đa dạng và phức tạp trên cơ thể người: Hệ thống tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn, nội tiết, thần kinh; gây ung thư, tổn thương da, gan, tuyến giáp, đái tháo đường typ 2; gây đột biến gen và di truyền đến thế hệ thứ 2, thứ 3.

Các di chứng nặng nề của chất độc da cam gây ra cho con người đã được Bộ Y tế, quy định cụ thể với 17 bệnh, tật, dị dạng, dị tật như: Ung thư phế quản, khí quản, thanh quản, tiền liệt tuyến, ung thư gan nguyên phát, bệnh đau tủy xương ác tính, u limpho không Hodgkin, u limpho Hodgkin, bệnh trứng cá do clo, bất thường sinh sản…

Những bệnh, dị dạng, dị tật này đã gây nên những nỗi đau dai dẳng, bất hạnh, thương tâm cả về thể xác, tinh thần cho nhiều nạn nhân và gia đình họ phải gánh chịu qua 2, 3 thế hệ. Nỗi đau này, đến với từng nạn nhân không giống nhau; đến với từng gia đình nạn nhân có những hoàn cảnh và nỗi khổ cũng rất khác nhau.

Chúng tôi chỉ xin được ghi lại một số trường hợp tại tỉnh Thừa Thiên Huế:

Gia đình ông Nguyễn Cải và bà Lương Thị Cước ở xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, nằm trong vùng bị nhiễm chất độc hóa học của thời chiến tranh. Ông Cải đã mất cách đây gần chục năm do di chứng của chất độc da cam để lại. Hai ông bà sinh được 3 người con (2 gái, 1 trai), hai cô con gái vẫn bình thường, riêng cậu con trai năm nay đã 37 tuổi, nhưng cân nặng chỉ được khoảng 15 kg, chân tay co quắp, đầu vẹo một bên không cử động được, mắt mờ, tai điếc. Cuộc sống “4 tại chỗ” của đứa con trai duy nhất này, cũng là chừng ấy năm trời mà hai vợ chồng ông Nguyễn Cải phải thay nhau chăm sóc.

Từ ngày ông Cải mất, bà Cước một mình bươn chải để kiếm sống và là người nuôi dưỡng, chăm sóc cho đứa con trai bất hạnh này. Không một lời kêu ca, phàn nàn, oán trách. Chỉ nhìn kỹ những thoáng buồn và nếp nhăn khắc khổ trên khuôn mặt của bà Cước, chúng tôi mới cảm nhận được nỗi đau đến tận cùng mà bà và gia đình đang nén chịu.

Bà Cước một mình bươn chải để kiếm sống và là người nuôi dưỡng, chăm sóc cho đứa con trai bất hạnh này

Gia đình ông Hoàng Bời và vợ là bà Hoàng Thị Dãnh Tại tổ dân phố 5, phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, cũng ở trong vùng bị rải chất độc hóa học. Hai vợ chồng sinh được một cô con gái duy nhất (cũng có vấn đề về trí tuệ), nhưng may mắn là có lấy được tấm chồng và sinh được 1 cháu trai tên là Hoàng Trung Tín. Cháu Tín là thế hệ thứ 3 nhưng cũng bị phơi nhiễm chất độc da cam, tay chân co cứng, nằm liệt tại chỗ, gần như bất động. Đã hơn 16 tuổi đời, nhưng cháu Tín chỉ nặng trên dưới 10 kg (ảnh dưới).

a2

Hai vợ chồng vừa phải vất vả, kiếm sống hàng ngày cho bản thân mình, vừa phải phụ giúp, lo toan cho đứa con gái để nuôi sống, chăm sóc cho đứa cháu không lành lặn của họ. Hơn 16 năm trời nuôi đứa cháu tật nguyền như vậy mà không một lời ca thán. Có ai biết được rằng, còn thêm bao nhiêu năm nữa với cảnh đời này mà vợ chồng ông Hoàng Bời phải gồng mình gánh chịu. Họ chấp nhận nuốt nước mắt vào trong để chăm sóc cho đứa cháu tật nguyền như vậy.

Còn đây, gia đình ông Trần Văn Dưi ở xã Thượng Long, huyện Nam Đông, bản thân ông bị nhiễm chất độc da cam, biến chứng nên đi lại rất khó khăn, ông chỉ tự lo được cho mình là chính. Vợ chồng ông có 3 người con thì cả 3 người đều dị tật: Chân tay co quắp, cứng đơ, không thể tự mình di chuyển như người bình thường được; mọi chi tiêu cho sinh hoạt gia đình của ông chỉ trông chờ vào số tiền trợ cấp hàng tháng mà ông Dưi nhận được theo chế độ hiện hành.

Việc làm nương, lam rẫy hay làm những công việc khác kiếm thêm thu nhập để phục vụ các sinh hoạt của 4 cha con đều do hai bàn tay người vợ. Tài sản của vợ chồng ông Dưi chẳng có gì trị giá trên 2 triệu đồng là một thực tế. Trong nhà cũng không cần phải có giường nằm, vì có thì cũng chẳng ai tự mình leo lên được giường đâu mà mua sắm (ảnh trên).

Cứ như vậy, năm này qua năm khác, cảnh đời nghèo túng, cơ cực, những mất mát, thương đau cả về thể xác và tinh thần của họ biết bao giờ chấm dứt.

Một hoàn cảnh khác cũng rất đáng thương tâm, đó là gia đình bà Phạm Thị Loan và ông Phạm Đức Thịnh (đã chết) ở số nhà 83 Sóng Hồng, thị trấn Phú Bài, thị xã Hương Thủy. Ông tham gia chiến đấu trong vùng bị Mỹ phun rải chất độc hóa học, là nạn nhân chất độc da cam và đã mất cách đây vài năm. Ông bà duy nhất được đứa con trai đầu là không dị tật, có lấy được vợ nhưng lại chẳng có con. Hai người con còn lại một nam, một nữ thì vừa bị câm, vừa điếc. Đứa con trai câm lấy được vợ, sinh được 1 cháu “nội đích tôn” thì lại cũng không nghe, không nói được, chân tay khẳng khiu, co quắp Cô con gái thì không ai lấy làm vợ, năm nay đã ngoài 34 tuổi rồi, vẫn ở vậy trong gia đình gồm 3 thế hệ.

Bà nội đang bế cháu

…Và còn rất, rất nhiều những hoàn cảnh đau lòng, thương tâm khác trên đất nước hình chữ S này chưa thể nào kể hết được.

Những nạn nhân, những đứa con, đứa cháu nêu trên chỉ là một con số quá nhỏ so với hơn 18.500 người bị phơi nhiễm ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Con số này lại càng rất không đáng kể so với hơn 4,8 triệu người bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin trên cả nước Việt Nam.

Nỗi đau thầm lặng của những người làm ông, làm bà, làm cha, làm mẹ… thì chỉ những ai là người trong cuộc mới thấu hiểu và cảm thông cho họ. Bản thân họ cũng đang phải chịu đựng những hành hạ của di chứng da cam, rồi phải gồng mình vất vả qua nhiều tháng năm để nuôi các thế hệ con, cháu tật nguyền.

Xoa dịu “Nỗi đau da cam” là việc làm nhân đạo, là tiếng nói lương tri, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của mọi người và của toàn xã hội.

Vậy nên, ngay sau cuộc chiến tranh kết thúc, Đảng, Chính phủ, các ngành chức năng ở Việt Nam đã có những quan tâm đúng mức về chính sách, chế độ cho những nạn nhân chất độc da cam. Hiện nay, các ngành chức năng vẫn còn tiếp tục nghiên cứu nhằm có thêm quyền lợi về vật chất, tinh thần theo hướng chính xác hơn, thiết thực hơn đối với những người bị di chứng da cam để lại.

Mặt khác, Đảng, Nhà nước và lãnh đạo các cấp cũng đã phát động nhiều phong trào, nhiều lời kêu gọi lòng hảo tâm của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, các doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước… để có thêm nguồn lực giúp đỡ các nạn nhân da cam và gia đình họ. Trên thực tế, từ các phong trào này, những năm qua Hội NNCĐDC/dioxin các cấp đã huy động được hơn 2.600 tỷ đồng góp phần giúp đỡ nạn nhân và gia đình họ giảm bớt khó khăn, vơi đi nỗi đau, cố gắng vươn lên hòa nhập cộng đồng.

Phương án hình thành “Quỹ vốn vay lãi suất 0%”, được huy động từ nhiều nguồn khác nhau để cho các hộ gia đình nạn nhân còn sức lao động, vay vốn xoay vòng cải thiện sinh kế đang được Hội NNCĐDC/dioxin tỉnh Thừa Thiên Huế triển khai đã và đang phát huy hiệu quả. Nếu được mở rộng đến các cấp Hội thì đây cũng là một cách làm tri ân đầy trách nhiệm để từng bước giúp cho gia đình nạn nhân chất độc da cam thoát nghèo bền vững.

Về mặt pháp lý, chúng ta phải kiên trì, tiếp tục ủng hộ vụ kiện của bà Trần Tố Nga cả về vật chất và tinh thần để đòi lại công lý cho những nạn nhân chất độc da cam. Buộc các tập đoàn hóa chất của Hoa Kỳ phải thừa nhận, các loại hóa chất mà họ sản xuất được quân đội Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh thảm khốc cách đây hơn 50 năm ở Việt Nam đã để lại những di chứng cực kỳ khổ đau và dai dẳng cho con người và các hệ sinh thái.

Phải trả lại công bằng về pháp lý, đền bù thỏa đáng cả vật chất, tinh thần cho những nạn nhân chất độc da cam là trách nhiệm của các Công ty hóa chất đã sản xuất chất da cam sử dụng ở Việt Nam.

Chung tay, góp sức vì nạn nhân chất độc da cam bằng những việc làm thiết thực là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị các cấp ở Việt Nam và của cả cộng đồng Quốc tế.

Ông Nguyễn Văn Khanh, Phó Chủ tịch Hội NNCĐDC/Ddioxin Việt Nam trao quà cứu trợ cho nạn nhân chất độc da cam bị ảnh hưởng do bão lụt tại Thừa Thiên Huế trong tháng 9/2020

Ông Nguyễn Văn Khanh, Phó Chủ tịch Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam (áo trắng) trao quà cho NNCĐDC bị ảnh hưởng do bão lụt tại Thừa Thiên Huế (tháng 9/2020)

Phát biểu tại buổi làm việc với Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam vào chiều 20/01/2021, Thủ tướng kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế tiếp tục chung tay xoa dịu nỗi đau da cam; sát cánh cùng Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam trong cuộc đồng hành nhân ái vì NNCĐDC".

“ Chúng ta sẽ làm hết sức mình, kể cả vận động Quốc tế, xã hội hóa nguồn lực, cùng ngân sách Nhà nước để có nguồn lực cho Hội và những người bị nhiễm có điều kiện tốt hơn”. Hậu quả chiến tranh để lại còn rất nặng nề. Có nỗi đau nào hơn nỗi đau da cam? Và nỗi đau này không chỉ của riêng ai.

Cuộc chiến tranh chống Mỹ đã đi qua gần ½ thế kỷ, nhưng nỗi đau da cam vẫn chưa dừng lại, nó vẫn đang âm ỉ, đeo bám trong hàng triệu gia đình ở Việt Nam mà chưa biết khi nào mới chấm dứt?

Di chứng da cam và sự dày vò về tinh thần, nỗi đau về thể xác, thiệt thòi về mọi mặt của nạn nhân và gia đình họ sẽ còn dai dẳng đến bao giờ? Và, có ai dám khẳng định được rằng, thế hệ thứ 3, thứ 4… trong các gia đình nạn nhân da cam sẽ không còn di chứng?./.

Nguyến Hữu Quyết

Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị và phát triển là một nhiệm vụ chính trị hàng đầu, thường xuyên

Thăm và làm việc tại huyện biên giới Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo các định hướng phát triển lớn của địa phương trong thời gian tới. Thủ tướng nhấn mạnh, cần quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, xác định nhiệm vụ xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị và phát triển là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu, thường xuyên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.