Thứ năm, 18/02/2021 | 14:51

BÀI DỰ THI: Nghị lực của nạn nhân chất độc da cam từ địa ngục trần gian trở về.

Sau bữa cơm chiều 30 tết, Đại đội trưởng Chín Sang và 36 đồng chí thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5, từ cánh rừng thượng nguồn sông Đồng Nai lên mấy cái xe ô tô tải được che đậy bằng thùng hàng vật tư y tế đi qua các trạm kiểm soát trên quốc lộ số 51 đến khu vực được giao nhiệm vụ bí mật. Đó là, vào cắt trên 30 lớp rào dây thép gai, qua rãnh thoát nước khoảng 8 mét áp sát đường băng đợi giờ vào đánh phá sân bay Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Trong lúc sĩ quan, binh lính địch tập trung đón xuân, bộ đội đặc công vào tiêu diệt những tên lính gác rồi cài đặt lựu đạn, thuốc nổ vào từng chiếc máy bay và kho tàng của địch trong sân bay. Vào lúc 0 giờ 5 phút, ngày mùng 1 tết năm Mậu Thân 1968, tiếng đạn pháo, cối của ta từ các căn cứ bắn vào, tiếng mìn lựu đạn trong sân bay phát nổ. Chúng tôi được lệnh xông lên đánh vào sở chỉ huy của địch trong sân bay, tiếng còi chuông báo động của địch trong sân bay rú lên, lính địch từ các phòng nghỉ chạy ra bị các tay súng của chúng tôi phục kích tiêu diệt, làm rất nhiều tên gục ngã trên đường chạy.

Chúng tôi nhanh chóng triển khai đội hình tiêu diệt những tên lính địch đang có ý định lên máy bay chạy trốn, mấy tiếng sau các mũi tấn công của Tiểu đoàn chúng tôi đã làm chủ được 1/2 sân bay. Sáng mùng 1 tết, Mỹ ngụy bắn hàng ngàn quả đạn pháo cối hạng nặng vào sân bay, làm nhà cửa kho tàng trong sân bay cháy nổ và mấy đồng chí trong trung đội tôi hy sinh (lúc đó tôi là tiểu đội phó). Sau đợt pháo cối địch bắn phá ác liệt là những chiếc xe tăng cùng lính bộ binh tràn vào đánh phá và kêu gọi các chiến binh Cộng sản bỏ vũ khí ra đầu hàng. Đợi xe tăng cùng những tên lính địch vào gần chúng tôi đồng loạt nổ súng, làm xe tăng và những tên lính địch sợ hãi hô hét tháo chạy …

Để chiếm lại sân bay Biên Hòa, mấy ngày liền địch huy động rất nhiều máy bay ném bom và bắn hàng ngàn quả đạn pháo cối vào phá hủy sân bay, rồi cho xe tăng và xe bọc thép cùng hàng trăm tên lính thủy đánh bộ đến bao vây chặn đường tiếp viện của đơn vị.

Mờ sáng, ngày mùng 6 tết địch bắn hàng trăm quả đạn pháo cối hơi cay cùng chất độc vào vị trí đơn vị tôi đang chiếm giữ, đạn pháo hơi cay làm người tôi quay cuồng, mắt trợn ngược và sùi bọt mép, chân tay tôi bủn rủn rồi ngã vật xuống đất, ít phút sau lính địch xông lên bắn chạy vào đấm đá, khóa chân tay rồi bịt mắt quăng lên xe chuyển về trại giam thị xã Long Bình, lúc đó khoảng 9 giờ sáng.

Trong trại giam, những tên lính địch vào dụ dỗ mua chuộc hỏi về các đơn vị của ta đang tấn công vào các căn cứ quân sự của địch sau tết Mậu Thân 1968. Sau nhiều giờ địch không lấy được tin, chúng quăng tôi vào căn nhà có người đã bị chết, một lúc sau chúng kéo ra tiếp tục đánh đập tra khảo, làm máu mồm máu mũi tôi trào ra rồi chúng lại đưa về phòng biệt giam. Đầu tháng 4 năm 1968 địch vào bịt mắt khóa chân tay rồi đưa tôi lên chiếc máy bay C.130 vận chuyển ra lao tù Phú Quốc, trên máy bay mấy tên nói với nhau: sao những thằng Việt cộng này không đảo ngũ và trốn lính, đi lính rồi bị bắt như thế này thì cũng chết hết. Nghe mấy tên lính trên tàu bay nói với nhau, tôi nghĩ: địch sẽ quăng chúng tôi xuống biển.

Trong nhà lao Cây Dừa đảo Phú Quốc, tôi tiếp tục bị mấy tên lính địch khai thác lấy tin, sau nhiều giờ tra khảo không lấy được tin chúng đưa tôi vào chiếc cũi sắt rồi phơi ra dưới trời nắng 37 – 38 độ C và dùng búa đập vào thùng sắt, những tên đồ tể của địch làm tôi chết đi sống lại nhiều lần và tôi nghĩ: như vậy không còn gặp được lại cha mẹ và anh em của tôi ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và những người anh em đồng đội…

Mấy ngày sau, địch đưa tôi về trại giam ở cùng các chiến sĩ của ta bị bắt, ít ngày sau đó tôi gặp được đồng chí Thành chiến sĩ cùng đại đội anh cho biết: trận đánh vào sân bay Biên Hòa đại đội hy sinh 33/37 đồng chí, còn 4 đồng chí đều bị bắt là: đồng chí Thành người tỉnh Long An, đồng chí Chiến người tỉnh Trà Vinh, đồng chí Phi người Cần Thơ và tôi người tỉnh Phú Thọ.

Thế rồi may mắn đã đến với các chiến sĩ bị địch bắt tù đầy bằng Hiệp định Pa Ri được ký kết, ngày 27/01/1973. Trung tuần tháng 3 năm 1973 tôi được chính quyền Sài Gòn vận chuyển ra bờ sông Thạch Hãn của tỉnh Quảng Trị trao trả. Chúng tôi vứt bỏ bộ quần áo tù trở về với cách mạng trong tình thương yêu vô bờ bến của nhân dân cả nước. Rồi được vận chuyển về huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh an dưỡng, rồi tiếp tục lên biên giới phía Bắc làm nhiệm vụ. Đến năm 1976 tôi chuyển về Viện thiết kế Xây dựng tỉnh Quảng Ninh làm việc, rồi kết hôn với cô gái người Nam Định khá xinh đẹp và giỏi giang tên là Trần Thị Hòa, năm sau thì sinh được đứa con trai đặt tên là Trần Quốc Nghiệp, tiếng cười của đứa con chưa được bao lâu, thì vợ chồng tôi nhận được tin đứa con của gia đình đã bị di chứng của chất độc hóa học do tôi nhiễm phải trong chiến trường.

Vợ chồng tôi tưởng may mắn sẽ đến với những đứa con sinh sau, thế rồi mấy đứa con sinh sau lại bị nặng hơn, vì thế mà đứa con trai thứ hai chỉ sống với gia đình tôi được có 35 tuổi rồi chết. Vợ chồng tôi dành dụm được đồng tiền nào cũng chỉ để đưa con đi khám chữa bệnh…Niềm hy vọng về những đứa con của gia đình tôi đã khép lại và còn phải chăm đứa con đã gần 50 tuổi rồi mà vẫn như một đứa trẻ mới có một hai tuổi và khi vợ chồng tôi qua đời không biết có người nào thương yêu và chăm sóc cho nó nữa không ?. Chất độc da cam của quân đội Mỹ rải xuống chiến trường mà tôi nhiễm phải, để lại nỗi đau dai dẳng cho vợ và mấy đứa con của tôi: còn đau hơn cả lúc tôi bị địch bắt giam tra tấn ở nơi địa ngục trần gian Phú Quốc đấy các đồng chí ạ.

Nghỉ chế độ, ông Trần Văn Hiển về cư trú tại phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, ông luôn quan tâm đến những người dân chịu thương chịu khó và những người bị tổn thất do chiến tranh gây ra. Nhiều năm ông được nhân dân bầu làm Trưởng khu, được Đảng viên bầu làm Bí thư Chi bộ và Ban chấp hành Đảng ủy phường. Trưởng ban Liên lạc các chiến sĩ bị địch bắt tù đầy của thành phố Hạ Long và Chủ tịch Hội NNCĐDC/dioxin phường Cao Thắng. Ông động viên 152 nạn nhân chất độc da cam của phường chấp hành chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các qui định của địa phương đề ra, góp phần vào việc xây dựng khu phố văn hóa, xứng đáng vào sự tin cậy của lãnh đạo và nhân dân địa phương./.

Gia đình ông Trần Văn Hiển - Cựu tù Phú Quốc và người con bị chất độc da cam, phường Cao Thắng, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Nguyễn Đăng San