Thứ ba, 03/11/2020 | 09:20

BÀI DỰ THI: Duyên nợ

Bạch Hạc chiều, không phải chỉ có tiếng hát thả theo gió chiều lồng lộng của cô gái Hạc Trì chèo đò qua bến Sông Lô. Thấm thoát đã trên 60 năm rồi, hình ảnh cô lái đò hồi cấp I còn in đậm trong tôi, với tình yêu đầu đời.

Hôm nay anh đứng ngắm trăng vàng

Cô gái Hạc Trì chở đò ngang

Hồn anh quện lẫn hồn mây gió

Anh cất bài ca gợi tiếng vang...

Cô gái Hoàng Thanh Xuân, bạn học từ tuổi 13, cái thời sáng đi học chiều chở đò giúp mẹ. Riêng tôi được nhận chức “thả bò”, gánh hàng cho mẹ lên chợ Hạc... và cũng từ đó, ông bà “nhà đò” dắt mối cho con gái, thân thiện với tôi học hết cấp 2 Việt Trì; “vẫn yêu thầm nhớ trộm” mỗi khi ngồi trên chiếc đò ngang chở đầy học sinh cấp 2 thị xã Việt Trì...

Bạch Hạc xưa, chỉ có mái lá tranh, cùng lắm có nhà xây cấp 4 của giới thượng lưu và nhà tầng ở giới quan chức.

Chuyện kể rằng: “Thời thượng cổ đất Phong Châu có một cây cổ thụ lớn là cây chiên đàn, gỗ thơm cao hơn ngàn trượng, cành lá um tùm phủ quanh đến mấy chục dặm có một đôi Hạc Trắng sống trên cây nên người ta gọi đất ấy là đất Bạch Hạc”.

Ấy thế mà trường cấp 1 vẫn uy nghi bên gốc Bàng xưa, mái đình cong trên bến Tam Giang... Cuộc sống trên bến dưới thuyền xen lẫn làng quê yên ả, với hội “mục đồng” nghịch ngợm nhất nhì ở làng Bạch Hạc (Làng Bạch Hạc trước đây thuộc Phủ Vĩnh Tường). Ấy thế mà lớp chúng tôi vẫn nhiều “Duyên nợ” với dạy học bình dân học vụ cho tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp Thượng Phong và duyên nợ với “Cô lái đò Thanh Xuân”.

Năm 1964 tôi được Hợp tác xã Thượng Phong cử đi học Trung cấp chăn nuôi Thú y tỉnh Phú Thọ, sau hai năm trở về nằm trong Ban quản trị Hợp tác xã giữa lúc máy bay địch ném bom bắn phá miền Bắc... Tôi được cử đi rà soát bom bi trên cánh đồng máy bay vừa thả bom, cùng với dân quân khiêng cáng thương binh, chôn cất người thân hy sinh trên cánh đồng, chiến tranh phá hoại làm đảo lộn cuộc sống của nhân dân. “Cô gái đồ” tình nguyện đi bộ đội ở đơn vị “Bộ đội Trường Sơn 559” vẫn thư từ hứa hẹn với tôi...

Năm 1967 bạn học cùng lớp với tôi, đã đồng loạt tình nguyện lên đường bảo vệ Tổ quốc. Tôi thuộc diện miễn hoãn vì nhà có 2 anh em trai, anh tôi là Nguyễn Ngọc Quảng đang ở chiến trường. Tôi tìm ra phương kế: Lấy máu móng tay viết đơn xin nhập ngũ và nhờ “cô lái đò” ký giả mạo thay mẹ tôi... Rồi trên cũng chấp nhận, được đài truyền thanh thị xã Việt Trì nêu gương ... Ngay tối hôm đó Thanh Xuân cùng tôi ở ga Bạch Hạc (xã Diệm Xuân cũ) và tiễn chân cho các bạn học (Bang, Sơn, Mạch, Thịnh, Hiếu... cho đến nay đa phần các bạn đã hi sinh là liệt sĩ).

Sau năm 1975 đất nước giải phòng, tôi có dịp ra Bắc công tác và nghỉ phép rồi đi tìm “cô lái đò” nghe nói cô ta đã có người yêu là Văn, Hiếu, có người nói cô ta bán hàng ở thị xã Phú Thọ mà vẫn chờ tôi...

Nhưng duyên phận trời cho, bà mẹ tôi đã làm mối sẵn cho cô gái nhà bên, cũng là lính hậu cần, thôi đành “cha mẹ đặt đâu con pngồi đó”, thời gian công tác và nghỉ phép gấp, sau một tuần tôi đành phải cưới vợ.

Vì nhiệm vụ, tôi lại tiếp tục vào Nam, đơn vị bố trí chuyển tôi về phụ trách ở Đoàn an dưỡng Đà Lạt; đến năm 1978 tôi chuyển ngành về nhà máy Dệt Vĩnh Phú nơi vợ tôi công tác và có đứa con đầu lòng, bất ngờ! Tôi gặp “cô lái đò qua bến sông Lô” hỏi ra thì cô vẫn ở vậy, cô nói nước mắt như thể thanh minh lỗi lầm:

Em vẫn chờ anh đấy, hòa bình thống nhất tưởng anh cũng là “liệt sĩ” bọn đi cùng anh nó bảo thế. Em có yêu anh Văn, anh Hiếu nhưng khi giải phóng, họ cũng đều là liệt sĩ cả và một điều thú thực với anh: Bố mẹ em trước khi mất có di chúc lại “ngôi nhà em đang ở là phần của em”, mặc dù gia đình đông anh chị em nhưng em có “duyên nợ với các liệt sĩ, trong đó có anh trai em là Hoàng Ngọc Hợp, bị mất tích, không đưa được hài cốt về (Lấy nước cát ngã ba sông để thờ cúng trong đình chùa, nhà thờ).

Em hy sinh cả đời tư của em nhang khói cho các linh hồn liệt sĩ đến khi em không còn trên thế gian này. Nhiều chuyến đò sang ngang em đều lỡ hẹn... Và bây giờ em bị phơi nhiễm chất độc da cam, tội ác của Quân đội Mỹ. Em vẫn là cô lái đò lấy cát, nước ngã ba Sông. Tôi chỉ biết bần thần qua bao điều khó nói để đến hôm nay, bạn học của tôi, những cựu chiến binh nạn nhân chất độc da cam vẫn còn duyên nợ với cô lái đò ngày ấy và bây giờ... Và với tôi vẫn còn “duyên nợ” với các gia đình, thân nhân liệt sĩ, các đồng đội của tôi vẫn còn đeo bám xin về với quê hương. Tôi đã bán cặp bò lấy tiền đi tìm đồng đội, được TW Hội CCB Việt Nam tặng Bằng khen. để có tiền đi tìm đồng đội và tiếp tục phối hợp với Hội Chữ thập đỏ, Hội NNCĐDC/dioxin, các ban, ngành đoàn thể phường Bạch Hạc đi nhiều chuyến lên Tuyên quang, Lai Đồng huyện Tân Sơn) Phượng Vĩ (Cẩm Khê) một số xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh Phú Thọ. Chuyển hàng từ thiện nhân đạo cho các hộ nghèo, gia đình chính sích, nạn nhân chất độc da cam.... để chuộc lỗi của tôi, trả nợ cho đồng đội của tôi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc.

Thảm họa da cam do Mỹ để lại cho đứa con thứ 3 của tôi là Nguyễn Thanh Phượng - sinh năm 1985, không được làm cha vì năm 2018 - 2019 sinh hai cháu trai là: Nguyễn Thành Nam - 7 tháng tuổi bị đa ối bầm tím không mở được mắt, không khóc, tay khèo cong chân, sau 1 tuần thì mất. Cháu Nguyễn Thanh Bắc - sinh năm 2019, cháu được 8 tháng tuổi bị đa ối ngôi ngược chân tay khèo cũng không nuôi được và đã mất.

Tôi đang làm chế độ cho cháu, tôi xác định: Dù kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng tôi vẫn tiếp tục đi tìm đồng đội, đi làm từ thiện nhân đạo. Tâm hồn được thoải mái, thanh thản động viên con đi tìm hạnh phúc mới, không nghĩ đến tuổi tác, bệnh tật, vui khỏe vươn lên trong cuộc sống hòa nhập với cộng đồng.

Nguyễn Ngọc Dậu