Thứ tư, 09/12/2020 | 15:34

BÀI DỰ THI: Nghị lực vượt qua khó khăn của NNCĐDC

Ông Phạm Ngọc Độ, nay 68 tuổi, đang sinh sống tại phố Chiềng Trào, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Ông là một Cựu Chiến binh bị nhiễm chất độc da cam, tỷ lệ mất sức lao động 42% và Thương binh 23%. Được anh em trong Hội CCB và Hội NNCĐDC/dioxin thị trấn Vụ Bản, cùng bà con phố Chiềng Trào suy tôn là người CCB gương mẫu, có bản lĩnh vững vàng, có nghị lực vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để làm giàu chính đáng.

Ông Độ sinh ra ở tỉnh Nam Định, năm 1960 theo cha mẹ đi xây dựng kinh tế miền Núi tại xã Văn Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Năm 1972 -1973 khi đến tuổi nhập ngũ đi khám 2 lần nhưng do thấp bé, nhẹ cân, đều không đủ tiêu chuẩn nhập ngũ. Năm 1974, ông tiếp tục đi khám tuyển, nhưng còn thiếu 2 kg nữa mới đủ tiêu chuẩn, ông đã năn nỉ bác sỹ ghi tăng cân để ông được nhập ngũ, bác sỹ thấy ông quyết tâm nhập ngũ nên đã thông cảm và ghi tăng thêm cân cho vừa đủ theo quy định. Nghi ngờ trước người tân binh bé nhỏ, người cán bộ tuyển quân định không nhận, ông đã đấu lý với cán bộ tuyển quân: "Tôi bé người, nhưng vẫn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ Quân đội giao cho, thước đo lòng trung thành của người chiến sỹ là lòng dũng cảm trong chiến đấu, không nên cứng nhắc về dáng dấp con người". Tháng 10/1974 ông đã được nhập ngũ vào Sư đoàn 308 Quả đấm thép của Quân đội ta. Huấn luyện xong, một bộ phận được điều về Đoàn 2081 tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam năm 1975 lịch sử. Sài Gòn giải phóng, ông cùng đơn vị ở lại làm nhiệm vụ trong Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn. Năm 1978 ông tiếp tục trong hàng ngũ của Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 đi làm nhiệm vụ Quốc tế tại Campuchia. Ông đã chiến đấu anh dũng với cương vị Đại đội trưởng, ông là người chỉ huy luôn được các chiến sỹ mến phục, đã được tặng nhiều huân chương các loại; ông bị thương ở 2 chân, khiến đi lại khập khiễng, một mảnh đạn cối quái ác xuyên qua má trái ra phía trước làm gẫy 3 chiếc răng cửa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ Quốc tế, năm 1982 ông xin chuyển ngành về làm công nhân Trại chăn nuôi tại huyện Lạc Sơn, khi Trại chăn nuôi giải thể, ông xin nghỉ chế độ một lần và cư trú tại xóm Chiềng, xã Liên Vũ, nay là phố Chiềng Trào thị trấn Vụ Bản.

Về nhà với 2 bàn tay trắng, nhưng ông có tay nghề cơ khí, hàn, với trí thông minh tự học ở trong Quân đội, hai vợ chồng đã tích cóp số tiền nghỉ chế độ 1 lần, vừa nuôi con ăn học, vừa mở một cửa hiệu nhỏ để sửa chữa xe đạp. Thời kỳ ấy, cả thị trấn Vụ Bản chỉ có 3 cửa hiệu sửa chữa xe đạp và 1 cửa hiệu sửa chữa xe máy, số lượng xe máy chỉ đếm trên đầu ngón tay, xe đạp cũng chưa đáng là bao, ông đã mạnh dạn phỏng theo mẫu xe đạp và hàn dựng được nhiều xe đạp mới, tuy chưa có thương hiệu nhưng được bà con ưa thích và bán với giá hợp túi tiền của người nghèo. Dần dần số vốn của ông bà tăng lên. Hai đứa con trai đã lớn khôn, ông thế chấp sổ đó để vay vốn ngân hàng, một mặt cho con đi học nghề sửa chữa xe máy, một mặt ông mở rộng hiệu sửa chữa của ông. Thời kỳ đó, xe máy Trung Quốc đã tăng lên rất nhiều và nhu cầu sửa chữa ngày càng nhiều; con trai ông đã học xong trường nghề, trở về cùng ông làm việc. Cha con ông bổ sung kiến thức kỹ thuật cho nhau để nâng cao tay nghề, vừa sửa và thay thế phụ tùng xe máy các loại, cùng xe đạp và làm lốp, hàn điện, sửa chữa máy nông nghiệp có uy tín, chất lượng và giá phải chăng. Quan niệm của ông là "Lấy công làm lãi là chính, chứ đừng tham lãi quá mà mất khách". Những người nghèo, đặc biệt khó khăn trong phố xóm đến sửa chữa xe thì ông không lấy tiền công, vì thế ông được bà con xung quanh rất yêu mến.

Đến nay xưởng sửa chữa xe của ông đã được xây dựng rộng rãi, có đủ các phương tiện máy móc và các loại phụ tùng (trừ phụ tùng ô tô). Ngôi nhà xây 2 tầng khang trang sạch đẹp trước cửa ngõ Chiềng Trào, cùng 1 ngôi nhà xây 3 tầng kiên cố của con trai ông đã minh chứng cho nghị lực, bản lĩnh vượt khó khăn để làm giàu chính đáng. Tuy bệnh tật do chất độc da cam và vết thương thực thể và sức khỏe giảm sút theo tuổi tác, ông không trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp hàng tháng mà tự bản thân ông cùng gia đình cố gắng nỗ lực để vươn lên.

Hiện nay gia đình ông có một cuộc sống khá giả so với cuộc sống bình quân trong khu dân cư. Gia đình ông đạt danh hiệu văn hóa liên tục trong nhiều năm. Tấm gương sáng của người lính bất cứ ở đâu, hoàn cảnh nào cũng tìm cách vượt qua; giờ đây ông sống vui vẻ bên 2 người con trai và 3 đứa cháu nội, hàng ngày sau giờ đi học về chúng lại quây quần bên cạnh ông bà yêu quý. Có hạnh phúc nào hơn?

Bùi Ngọc Van