Đối với Việt Nam, hậu quả chiến tranh và đặc biệt là di chứng của CĐDC/dioxin đối với môi trường và con người Việt Nam còn rất nặng nề, vẫn hiện hữu cho tới tận hôm nay và sẽ còn tiếp tục trong tương lai. Vấn đề môi trường đã được các đại biểu đề cập. Bài này tập trung vào vấn đề con người - nạn nhân chất độc da cam (NNCĐDC), một số khía cạnh của điều kiện kinh tế- xã hội mà NNCĐDC đang phải đối mặt; thành tựu đạt được trong mối quan hệ Việt Nam-Mỹ qua việc giải quyết vấn đề NNCĐDC; và khuyến nghị một số biện pháp để hỗ trợ tốt nhất cho NNCĐDC.

Hội thảo Sáng kiến hòa giải và khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam: “Đối thoại về hậu quả chiến tranh và hòa bình”
Bà Mai Khanh, Trưởng ban Đối ngoại (VAVA) và các đại biểu trong Hội thảo tại Hoa Kỳ (10/2022)

1. Vấn đề sức khỏe và đời sống của NNCĐDC – Thành tựu lớn nhất trong việc giải quyết những ảnh hưởng của chất da cam đối với môi trường và sức khỏe ở Việt Nam đến nay. Cần tiếp tục làm gì và làm thế nào.

Chất độc da cam đã hủy diệt thiên nhiên, hủy hoại sức khỏe con người, gây nhiều bệnh tật nặng nề. Di chứng của CĐDC/dioxintrên phương diện con người là vấn đề khó khăn hơn cả, và Việt Nam là một nước duy nhất chịu ảnh hưởng của CĐDC/dioxintrong chiến tranh với qui mô lớn nhất, với thời gian lâu dài nhất, hậu quả của CĐDC/dioxinđã di truyền sang thế hệ thứ tư (đời chắt).

Ở Việt Nam có 4,8 triệu người bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin, trong đó có 3 triệu người là nạn nhân chất độc da cam. Hiện nay chúng tôi đang tiến hành các cuộc điều tra, khảo sát trên phạm vi cả nước về số lượng NNCĐDC từ thế hệ con, cháu, chắt. Theo số liệu điều tra ban đầu tại một số tỉnh, đã có hơn 150 nghìn nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai (con), 35 nghìn nạn nhân thuộc thế hệ thứ ba (cháu) và khoảng 6.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ tư (chắt).

Nhiều cuộc điều tra, nhiều hội nghị, hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học (có sự tham gia của các nhà khoa học nước ngoài, trong đó có Mỹ), trong đó VAVA đã tổ chức được 2 cuộc hội thảo tại Việt Nam: Hội thảo khoa học quốc tế "Đánh giá tác hại của CĐDC/dioxindo Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam" ngày 8-9/8/2016 và Hội thảo khoa học quốc tế "Bệnh, tật liên quan với phơi nhiễm CĐDC/dioxinở Việt Nam - Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dự phòng và điều trị" ngày 20/12/2021. Qua đó đã cho thấy NNCĐDC Việt Nam phải chịu rất nhiều những bệnh tật và di chứng nặng nề (nhiều hơn danh sách các bệnh tật có liên quan đến CĐDC/dioxindo Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ công bố vào những năm 1994-1995). Nhiều nạn nhân nữ còn bị những tai biến sinh sản, nhiều người bị tước đi khả năng sinh con và hạnh phúc làm mẹ. Không chỉ sức khỏe giảm sút sức khỏe, mang bệnh nan y, mà còn là nỗi đau day dứt khôn nguôi về tinh thần khi di chứng da cam để lại nặng nề cho con, cháu của họ; khi sinh ra đã phải mang hình hài đầy dị dạng, dị tật, mù, câm, điếc, thiểu năng trí tuệ, tâm thần... do biến đổi gen di truyền qua mẹ hoặc bố, ông, bà hoặc thậm chí là cụ. Họ không thể sống như một người bình thường, họ phải vật lộn, chịu đựng đau đớn vì bệnh tật hàng ngày, hàng giờ. Có những đứa trẻ sinh ra bình thường như bao người, nhưng lớn dần lên mới phát bệnh, chân tay tự nhiên co quắp phải nằm liệt tại chỗ. Có nỗi đau nào hơn khi phải chứng kiến các con lớn lên không biết làm gì, suốt ngày lang thang thơ thẩn lại thường xuyên ốm đau. Đặc thù của bệnh do CĐDC/dioxingây ra rất khó chữa trị và không thể chữa trị. Do không có khả năng lao động, không có nguồn thu nhập nên rất nhiều gia đình NNCĐDC rơi vào cảnh túng bấn, phải bán nhà, bán đất, cộng với số tiền làm ra phải chạy chữa cho con. Hầu hết các gia đình NNCĐDC đều có chung nỗi lo về: điều trị bệnh tật; tài chính gia đình; và tương lai của những đứa con tàn tật của họ. Có thể nói, NNCĐDC là những người nghèo khổ nhất, bất hạnh nhất trong xã hội. Mặc dù có các nguồn hỗ trợ kể cả quốc tế và Việt Nam, nhưng cũng không thể bù đắp được. Những người có tình trạng sức khỏe và khuyết tật liên quan đến CĐDC/dioxincần nhiều hỗ trợ hơn nữa, bao gồm: điều trị, trang thiết bị y tế, dịch vụ xã hội, phục hồi chức năng và trị liệu, giáo dục, nhà ở và hỗ trợ sinh kế.

Chính vì vậy, bằng nội lực của mình, Việt Nam đã rất nỗ lực nhằm xoa dịu nỗi đau cho các NNCĐDC và giúp đỡ các nạn nhân có thể hòa nhập hơn với cộng đồng. Ngoài ra, Việt Nam cũng hợp tác với Hoa Kỳ trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh, đã có những thành tựu quan trọng đạt được trong nỗ lực của các nước liên quan.

Đối với Việt Nam: (1) Đã quan tâm đầu tư để tẩy độc ở những điểm nóng trong đó có 3 sân bay: Đà Nẵng, Phù Cát, Biên Hòa; (2) Đã đề ra các chính sách đối với những người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐDC/dioxin và con cháu của họ, đồng thời có chính sách bảo trợ xã hội đối với người dân bị nhiễm CĐDC/dioxin và những người sống trong vùng bị phun rải.

Đối với quan hệ Việt Nam - Mỹ: (1) Đã thúc đẩy quan hệ nhân đạo và ngăn chặn thảm họa chiến tranh hóa học đối với loài người. Có thể thấy Việt Nam là một hiện trường lớn nhất từ trước đến nay của thế giới về việc sử dụng chất độc hóa học trong chiến tranh, là một bài học cảnh tỉnh cho tất cả các nước khi tiến hành các cuộc chiến tranh. (2) Hai bên đã nhận ra rằng đây là một thảm họa về môi trường và coi việc hợp tác tẩy độc ở các vị trí bị nhiễm độc... là thúc đẩy hợp tác, tăng cường mối quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ. Đã nhận thức được nguy cơ tiềm ẩn còn tồn tại và hai bên đã quyết tâm thực hiện.

Tuy nhiên công việc phía trước còn rất nhiều và vẫn cần tiếp tục xử lý triệt để và cần có kinh phí để thực hiện.

Hiện tại, Chính phủ Hoa Kỳ đang tài trợ chương trình hỗ trợ những người khuyết tật nặng, bất kể nguyên nhân cho 08 tỉnh miền Trung và miền Nam bị phun rải nặng nề. Song có một số vấn đề chúng ta cần xem xét:

- Trong phạm vi hỗ trợ hiện nay của USAID dành cho người khuyết tật nặng ở Việt Nam, 50% hiện được phân bổ cho hỗ trợ nhân đạo trực tiếp và 50% cho các mục tiêu phát triển như xây dựng năng lực, đào tạo, hòa nhập và trao quyền cho người khuyết tật. Với các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ, nhiều người bị ảnh hưởng bởi chất da cam vẫn chưa có khả năng tiếp cận các hỗ trợ sẵn có. Những nguồn hỗ trợ từ Mỹ chỉ hướng tới nhóm thụ hưởng là những người khuyết tật nói chung, chứ chưa tập trung cho những người liên quan đến CĐDC/dioxin, và các dự án được hỗ trợ bởi các khoản tài trợ này chủ yếu tập trung vào các dịch vụ hoặc hỗ trợ kỹ thuật cho chăm sóc sức khỏe, đào tạo và tư vấn việc làm. Do đó các hỗ trợ này chưa trực tiếp giúp đỡ nhiều cho các hộ gia đình nạn nhân. Điều nạn nhân cần là ủng hộ đến từng nạn nhân và đến tận các hộ gia đình nạn nhân.

- Hỗ trợ của Hoa Kỳ tại Việt Nam tập trung vào những người khuyết tật nặng, bao gồm cả trẻ em, nhưng không bao gồm nhiều người cao tuổi có tình trạng sức khỏe mãn tính liên quan đến việc tiếp xúc trực tiếp với dioxin trong chiến tranh.

Khuyến nghị:

- Rất cần có một chương trình hỗ trợ dài hạn mang tính chất bao trùm và được thực hiện hiệu quả cho càng nhiều nạn nhân chất da cam càng tốt, cả những người bị phơi nhiễm trực tiếp và các thế hệ tiếp theo.

- Hỗ trợ của Hoa Kỳ nên được mở rộng cho nhiều người bị ảnh hưởng hơn, không chỉ trong tám tỉnh trọng điểm như hiện nay mà nên mở rộng ra các tỉnh khác. Bên cạnh việc hỗ trợ cho người khuyết tật “bất kể nguyên nhân”, nên chú trọng hơn những người khuyết tật là NNCĐDC.

- Nên tiếp cận theo 2 hướng để đạt hiệu quả cao trong việc hỗ trợ nạn nhân: (1) Hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình nạn nhân, ngoài việc hỗ trợ học bổng, giáo dục, có thể giúp các gia đình trang trải chi phí sinh hoạt thường xuyên bởi họ là những người có điều kiện sống khắc nghiệt, (2) Hỗ trợ các trang thiết bị y tế, phương tiện phục hồi chức năng đến từng hộ gia đình nạn nhân khuyết tật vận động và có thể lựa chọn ban đầu những hộ gia đình có từ 2 nạn nhân trở lên.

2. Sự hợp tác trong việc giải quyết những ảnh hưởng của dioxin đã hỗ trợ như thế nào trong việc hòa giải quan hệ Việt Nam - Mỹ

Hậu quả chiến tranh, bao gồm cả CĐDC/dioxin, hiện là một trong những khía cạnh cốt lõi của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, góp phần vào sự tin cậy và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ song phương, đối tác toàn diện.

Kể từ chuyến thăm Việt Nam của BTQP Mỹ William Cohen (3/2000) và đến chuyến thăm Việt Nam của Tổng Thống Bill.Clinton (11/2000), hai bên đã thỏa thuận phối hợp với nhau để nghiên cứu về ảnh hưởng của CĐDC/dioxin ở Việt Nam; trong Thông cáo chung Việt Nam- Hoa Kỳ 2006, Tổng thống Mỹ G.Bush đã nêu rõ, việc hợp tác tẩy độc ở các vị trí gần các kho chứa.... là thúc đẩy hợp tác, tăng cường mối quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ.

Từ năm 2011 đến nay đã có 6 Dự luật cứu trợ NNCĐDC Việt Nam (Victims of Agent Orange Relief Act) được trình Quốc hội Hoa Kỳ với nội dung yêu cầu chính phủ Mỹ đẩy nhanh hơn tiến trình tẩy độc môi trường tại tất cả các nơi đã tồn dư dioxin trong chiến tranh ở Việt Nam và thực hiện các chương trình hỗ trợ sửa chữa, xây nhà ở và các dịch vụ y tế cho tất cả những người bị ảnh hưởng CĐDC/dioxin. Mặc dù chưa dự luật nào được Quốc hội Mỹ thông qua, nhưng chính phủ Hoa Kỳ đồng ý phối hợp với chính phủ Việt Nam thực hiện các chương trình hỗ trợ, cải tạo nhà ở, dịch vụ y tế cho những người khuyết tật ở các tỉnh bị phun rải nặng CĐDC.

Đã có những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển quan hệ hai nước về khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam. Cho đến nay, chính phủ Hoa Kỳ đã đóng góp gần 100 triệu USD cho các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật. USAID hỗ trợ cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng thông qua các dự án ở từng giai đoạn... Các hoạt động này đã đóng góp quan trọng cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ để vượt qua quá khứ đau thương mà hai nước cùng quan tâm.

Tuy nhiên, với số lượng nạn nhân hiện còn rất đông, bệnh nặng, chủ yếu không lao động sản xuất được và phải dựa vào những người chăm sóc họ, chúng tôi xác định nhiệm vụ chăm sóc nạn nhân "vừa cấp bách, vừa lâu dài" và cần chú trọng đến việc hỗ trợ những người khuyết tật là NNCĐDC. Do vậy chúng tôi đề nghị Hoa Kỳ nên đẩy nhanh tốc độ triển khai các khoản hỗ trợ này như ông Tim Reiser đã nhấn mạnh tại cuộc họp bàn tròn ở Hà Nội ngày 30/8/2022 vừa qua về vấn đề người khuyết tật - NNCĐDC Việt Nam – các hoạt động hợp tác với Hoa Kỳ để khắc phục hậu quả sau chiến tranh, ông nói rằng “Chúng ta cần phải có sự hợp tác tích cực từ các bên liên quan để thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân một cách hiệu quả hơn trước, và trước mắt phải hỗ trợ trực tiếp được tối thiểu là 100.000 nạn nhân”.

Việc mở rộng hỗ trợ người khuyết tật của USAID cho người khuyết tật nặng ở tám tỉnh miền Trung và miền Nam, những vùng đã bị hứng chịu nặng nề, là một bước quan trọng bổ sung cho chương trình trợ cấp của Chính phủ. Chúng ta nên bàn cụ thể các bước trong tương lai hướng tới việc giúp những người bị ảnh hưởng bởi CĐDC/dioxin có cuộc sống tốt hơn và hữu ích có thể được thực hiện thông qua các thỏa thuận giữa chính phủ với chính phủ, với vai trò điều phối của Ban chỉ đạo quốc gia 701 và USAID.

3. Có (hay không) những thay đổi gì kể từ hội nghị online do USPI tổ chức hồi tháng 3/2022

Một số vấn đề vẫn chưa có tiến triển kể từ tháng 3/2022, nên tiếp tục được xem xét thực hiện:

- Hoa Kỳ và Việt Nam duy trì danh sách có những điểm trùng hợp nhưng không giống nhau hoàn toàn về những điều kiện đủ để được nhận hỗ trợ do bị nhiễm CĐDC. Thỏa thuận của cả hai chính phủ về những điều kiện này có thể đóng góp vào các thỏa thuận song phương tiếp theo về cách thức tốt nhất để hỗ trợ sức khỏe và người khuyết tật của Hoa Kỳ cho Việt Nam và để có một chính sách nhất quán hơn cho những người bị ảnh hưởng ở cả hai quốc gia.

- Tài trợ của Chính phủ Hoa Kỳ cho hỗ trợ sức khỏe và khuyết tật liên quan đến CĐDC nên được tách biệt với việc khắc phục hậu quả môi trường trong các luật về phân bổ ngân sách. Chính quyền Hoa Kỳ nên đưa việc tiếp tục tài trợ này vào trong các đề xuất ngân sách hàng năm đối với Quốc hội. Nhu cầu hỗ trợ sức khỏe và khuyết tật sẽ tồn tại lâu hơn việc làm sạch môi trường.

- Nên thay thế cụm từ những người khuyết tật “bất kể nguyên nhân” bằng cụm từ “những người bị ảnh hưởng bởi CĐDC/dioxin”./.