Chị Trịnh Thị Năm vợ anh, người đàn bà nhẫn nhục gánh chịu đau thương, đôi mắt khô kiệt, giọng nói u buồn:

- Ngày anh ấy mới về, nhiều người bảo, chiến trường đã cướp mất anh Bâu ngày xưa.

Anh Bâu 10 năm trước, một chàng trai của làng biển vạm vỡ, lanh lợi, hay cười. Anh Bâu bây giờ thần sắc nhợt bệnh, suốt ngày lầm lỳ, lặng lẽ như một cái bóng. Thương anh cảnh nghèo, sức yếu, cha mẹ không còn, dân làng gom góp dựng cho anh một căn nhà mái rạ, vun vén cho anh một người vợ hiền, để “sớm nắng chiều mưa” anh có nơi nương tựa. Chị Năm bảo, biết lấy anh là khổ, nhưng chị vẫn thương vì một lẽ rất đơn giản: anh là bộ đội, anh đã phải chịu đựng gian khổ nhiều.

Tháng 3 năm 1976, chị Năm có mang đứa con đầu tiên. Anh Bâu mừng lắm, anh khoát tay tuyên bố với bạn bè, nếu vợ đẻ con trai sẽ mổ gà ăn mừng. Nhưng khi vợ anh sinh con trai, anh Bâu lại ngồi ôm đầu rầu rĩ. Nhìn đứa con đỏ hỏn không có đầu, đôi chân ngắn cũn, giãy giãy, rồi cứng đờ, anh kêu: “Trời! Tôi đi “giết người” người báo oán tôi đây”. Anh đi giết giặc và cho rằng giặc cũng là người. Lúc ấy cuống lên anh đâu có nghĩ cái quái thai “ăn mất đầu” con anh chính là hậu hoạ của chất độc hoá học chứ đâu phải như anh quan niệm “ác giả ác báo”.

Hơn 4 năm sau, chị Năm vợ anh đẻ 3 đứa con gái nữa. Mỗi lần sinh là một lần vợ chồng hồi hộp, nín thở. Rất may cả 3 đứa con ra đời đều “mẹ tròn con vuông” không khuyết tật gì, vợ chồng anh mừng lắm. Anh Bâu đặt tên các con là Nguyễn Thị Nhanh, Nguyễn Thị Nhạn, Nguyễn Thị Nhẫn. Những năm đầu nhìn 3 đứa con bụ bẫm, mập mạp, hay ăn, mau lớn vợ chồng anh rất mừng. Chúng đi đứng, nô đùa bình thường như mọi đứa trẻ cùng xóm. Nhưng rồi càng lớn cháu Nhanh, cháu Nhạn, cháu Nhẫn da càng vàng bủng như người cớm nắng. Chúng chậm chạp, lờ đờ. Mắt ba đứa dần dần mờ đục.

Chị Năm kể: Lúc đầu các cháu bảo, ban đêm mở mắt thấy toàn đom đóm. Ban ngày nhìn loá mắt những quầng xanh, đỏ, tím, vàng. Trông một người thành hai, ba người. Các cháu bảo: có lúc trông thấy rất nhiều bố, nhiều mẹ. Rồi sau đó bóng đen cứ dần dần loang ra tối sầm, không nhìn thấy gì nữa. Khi đôi mắt biến mất ánh sáng, cũng là lúc giọng nói của các cháu bắt đầu ngọng, biểu lộ âm thanh không được. Trước đó gọi bố ơi, mẹ ơi rất sõi, sau này chỉ ố ê, e ê, ê ê. Người ta gọi các cháu là bé câm, bé mù. Suốt ngày chỉ ngồi quờ quạng, đứa nọ ôm lưng đứa kia bò theo nhau quanh sân. Vợ chồng anh Bâu lo lắng, chạy vạy, thuốc thang, đưa đi hết viện này đến viện khác cũng không lấy lại được ánh sáng và giọng nói cho con. Đến khi Nhanh lên 10 tuổi, Nhạn 9 tuổi, Nhẫn 7 tuổi, cả ba cùng phù thũng, toàn thân sùi mụn sù sì như da cóc. Một hôm chị Năm dắt các con ra tắm dưới ao trước cửa nhà. Tắm xong cả ba đứa cứ đòi ngâm mình dưới nước, bế lên giãy giụa, be be khóc, lại đòi xuống tắm. Rồi những ngày sau đó, đứa nọ ôm lưng đứa kia, rờ rẫm, lần mò xuống cầu ao. Chúng ngâm mình đến cổ. Đằm dưới nước chán, lại bò lên bờ phơi nắng. Khô người lại nhoài xuống ngâm nước. Nửa tháng sau cháu Nhanh kiệt quệ không còn đủ sức bò ra ao. Nhanh nằm trên giường thoi thóp rồi tắt thở. Hai tháng sau nữa, Nhạn và Nhẫn cũng lần lượt qua đời. Thì ra trước lúc chết, chị Năm bảo, trong người các cháu hình như phát hoả. Nóng không chịu nổi nên cứ đòi xuống nước ngâm mình. Hơn hai tháng, ba mặt con lìa bố mẹ, anh Bâu ngồi khóc suốt ngày. Dân làng Hưng Hải đến chia buồn, nhìn anh, không ai cầm nổi nước mắt. Con đi, của hết, vợ chồng anh Bâu vốn đã nghèo, lại càng gieo neo. Đã vậy, cơn bão số 6 năm ấy lại dun đổ căn nhà và quét sạch đồ đạc của gia đình anh. Chị Năm kể với chúng tôi, đợt ấy không có bà con làng xóm và sự tận tình giúp đỡ của địa phương, vợ chồng chị sống cũng chẳng có chỗ nương thân. Sau trận bão, người mang đến cây tre, người cho bó rạ, người bơ gạo, ấm chè, người góp công, góp sức, đắp tường, trát vách, dựng lại cho vợ chồng anh căn nhà. Hợp tác xã mua sắm tặng gia đình anh toàn bộ đồ dùng giường chiếu, chăn màn, bàn ghế, nồi niêu, bát đũa v.v… Nỗi đau lớn tưởng không gì bù đắp nổi, nhưng sống trong tình thương của dân làng, nỗi đau ấy cũng dần dần dịu đi.

Mười năm sau, chị Năm vợ anh Bâu lại lần lượt sinh hai trai một gái nữa. Anh Bâu đặt tên các con là Nguyễn Văn Canh, Nguyễn Văn Hiển và Nguyễn Thị Vinh. Những năm tháng đầu, Canh, Hiển, Vinh đều béo tốt, da dẻ hồng hào, gọi tên bố, tên mẹ rất sõi, nô đùa, chạy nhảy suốt ngày. Nhìn các con khỏe mạnh, bình thường, vợ chồng anh Bâu nửa mừng, nửa lo. Lo vì sợ các con lớn lên lại giống các chị của chúng. Linh nghiệm từ nỗi lo ám ảnh ấy lại thành sự thật. ít lâu sau, chị Năm phát hiện dấu hiệu bất thường từ hai đứa con lớn Nguyễn Văn Canh và Nguyễn Thị Vinh.

Chị kể: Hôm ấy vừa đi làm về, hai đứa con ra ngõ đón, giơ tay lên, miệng kêu ẹ ẹ. Chị bủn rủn chân tay bởi nhận ra rằng các con của chị đã bị ngọng. Đó là dấu hiệu đầu tiên không biểu lộ được âm thanh giọng nói. ít lâu sau nữa, mắt Vinh và Canh cũng dần dần biến mất ánh sáng. Lúc đầu, đi còn dờ dẫm, sau mù hẳn. Mọi cử chỉ như đòi ăn, đòi uống, đái, ỉa tất tật đều giơ hai tay quơ quơ làm hiệu cho bố mẹ.

Chiến tranh như con rắn độc phục trong cơ thể anh Bâu. Nó không chỉ phun nọc đầu vào trái tim bẩy đứa con anh, mà còn gặm nhấm tàn phá thân thể của anh nữa. Vừa thương những đứa con qua đời, vừa lo số phận những đứa đang sống khắc khoải, người anh gầy đét, tâm tưởng lơ mơ. Trên mặt, trên cổ những vết sần tím tái, sùi ra, rỉ nước. Đồng tử mắt anh biến màu mờ bạc. Các bác sỹ khám nghiệm kết luận: “Anh Bâu bị nhiễm chất độc hoá học nặng, không có khả năng bình phục. Nồng độ Đi-ô-xin trong máu rất cao tới 250 PPT, gấp 120 lần người bình thường”.

Chúng tôi cùng hội chữ thập đỏ Tiền Hải đến thăm gia đình anh. Anh Bâu ôm đầu, tựa lưng vào bức tường đất trước cửa, thờ ơ, im lặng. Anh nhìn vợ, nhìn con, nhìn mọi người bằng đôi mắt buồn thương. Trông những đứa con ôm lưng rờ rẫm, bò theo nhau ngoài sân, chị Năm vừa nói, vừa như mếu:

- Chất độc sao nó ác thế các bác ơi. Hẳn nhà em bị bom, bị đạn như mấy chú cụt chân, cụt tay ở trong làng, các con em cũng đâu đến nỗi đau đớn thế kia! Chị chỉ tay và nói tiếp:

- Các cháu không nói được, nhưng giá còn trông thấy mặt bố mẹ cũng đỡ tủi. Vừa câm, vừa mù y hệt bệnh của các chị nó, có cách gì cứu được các cháu không hả các bác?

Chị Năm đêm ngày lo lắng, bận bịu chăm sóc, thuốc men cho con, cho chồng, người chị gầy rộc. Anh Bâu thì run rẩy, có lúc đi không vững, suốt ngày chỉ ngồi tựa lưng đuổi ruồi đậu trên các u nhọt. Cuộc sống gia đình hầu như đều trông vào bà con làng xóm và chính quyền địa phương. Về Nam Phú chúng tôi được chứng kiến một cuộc họp của xóm 2 bàn các cứu giúp gia đình anh Bâu. Hơn 50 hộ gia đình có mặt gần đủ. Anh Đỗ Văn Cường xóm trưởng nói:

- Hoàn cảnh gia đình anh Bâu như các ông, các bà, các bác đã rõ. Không chỉ xóm ta mà bà còn xóm 1, xóm 3, xóm 4 cũng hết lòng cưu mang giúp đỡ gia đình anh. Nhưng vì anh bị nhiễm chất độc quá nặng ở chiến trường, bốn đứa con ảnh hưởng từ bố đã sống không được, ba đứa hiện tại thì hai cháu đang “thập tử nhất sinh”. Anh Bâu lại đang phát bệnh nặng. Gia đình không còn khả năng chạy chữa và nuôi nhau. Vậy xin đề nghị bà con với tinh thần lá lành đùm lá rách, hãy tiếp tục giúp đỡ gia đình anh trong lúc này.

Ông Mầm phát biểu:

- Chúng tôi đồng ý. Cũng vì dân vì nước, gia đình anh Bâu mới phải mất mát đau thương như vậy, cớ gì chúng tôi lại không có trách nhiệm với anh ấy.

Anh Lê Văn Đường ngồi bên ông Mầm liền nói:

- Tôi nghe người ta bảo, những người bị nhiễm chất độc da cam, tức là đã chất độc hoà lẫn trong dòng máu. Vậy các anh hỏi bệnh viện xem có thay máu được không? Nếu thay được, bà con trong xóm chúng tôi sẵn sàng góp máu để thay cho anh ấy.

Bà Đang lên tiếng:

- Đúng đấy! Phải thay máu mới cứu được chú ấy.

Chị Phạm Thị Tâm bí thư Đảng uỷ xã Nam Phú tới dự cảm động phát biểu:

- Gia đình anh Bâu còn được đến ngày hôm nay là nhờ bà con làng xóm. Riêng căn nhà vợ chồng anh đang ở, xã và bà con đã làm đi làm lại tới ba lần. Nhưng do hoàn cảnh địa phương ta còn khó khăn nên mới làm tạm tường đất, lợp rạ, do vậy đến nay gió bão, mưa nắng lại cũng sắp đổ. Đảng uỷ, uỷ ban xã vừa quyết định trích quỹ phúc lợi và tổ chức một đợt quyên góp mọi người giúp đỡ để xây dựng lại căn nhà cho gia đình anh Bâu, mong bà con trong xóm ta cùng tham gia đóng góp.

Mọi người tán thành, hưởng ứng nhiệt liệt. Ông Trần Xuân Hưng nói:

- Anh Bâu hàng chục năm ở rừng rú, mặt trận, cực khổ đã nhiều, bây giờ có được căn nhà xây tử tế. Anh ấy ở được ngày nào, đỡ khổ ngày ấy. Còn nếu như vì con bệnh hiểm nghèo, anh ấy phải ra đi thì đây cũng là chút ân tình của quê hương làng xóm đền đáp đối với anh ấy.

Hai tháng sau, ba gian nhà ngói đỏ, tường xây do địa phương và dân làng Hưng Hải xây cất tặng gia đình anh Bâu được dựng lên từ cái nền đất cũ. Được tin việc làm nghĩa cử ấy, chúng tôi lại về thăm gia đình anh Bâu. Anh không còn ngồi dựa lưng vào bức tường đất lặng lẽ đuổi ruồi mà nằm dưỡng bệnh trong căn nhà xây thoáng đãng, mát mẻ. Những tấm lòng bao dung nhân nghĩa của một vùng quê với gia đình người lính bất hạnh làm tôi cảm kích mãi không nguôi. Chị Tâm, bí thư Đảng uỷ xã cho biết. Dân làng thương anh Bâu không chỉ bằng những giọt nước mắt mà bằng cả những hành động thiết thực. Rồi chị rưng rưng kể về những việc làm, những con người sống trọng tình, nặng nghĩa, hết lòng vì nhau. Ngày đầu anh Bâu ở chiến trường về, cơ thể bình thường không nằm trong diện chính sách. Khi cơn bệnh hiểm ác phá ra do nhiễm chất độc thì cả làng, cả xã coi “tai hoạ” của gia đình anh là nỗi đau chung, nỗi lo chung của mọi nhà. Đảng uỷ, uỷ ban xã Nam Phú coi đây là trách nhiệm, là đối tượng quan tâm đặc biệt. Đích thân đồng chí bí thư, chủ tịch xã lên huyện, lên tỉnh tới bẩy lần lo chạy thủ tục cho anh Bâu hưởng chế độ chính sách bệnh binh. Chính sách là sự đãi ngộ cần thiết. Nhưng chính sách không thể “bao nổi” tình cảnh như gia đình anh Bâu. Với hơn bốn chục ngàn đồng mỗi tháng chỉ đủ tiền thuốc tiêm dăm ngày cho một đứa con anh. Còn ăn uống thường ngày và thuốc men giành giật sự sống cho 8 bố con anh tất tật đều trông vào xã, vào tình nghĩa xóm làng. Chị Tâm đưa chúng tôi xem danh sách các cơ quan, đoàn thể nghe chuyện anh Bâu đã về thăm hỏi, ủng hộ: Uỷ ban huyện Tiền Hải 3,5 triệu. Hợp tác xã Nam Phú 1392 kg thóc. Cán bộ công nhân công ty dịch vụ Nội Bài 3 triệu đồng. Công ty dầu khí Một 1,5 triệu đồng. Đoàn nhà văn Quân Đội 1 triệu. Huyện uỷ Tiền Hải 2 tạ thóc. Chị Hằng Nga quận I thành phố Hồ Chí Minh 300.000 đồng. Đảng uỷ, uỷ ban xã Nam Phú hai đợt 4,5 triệu. Hợp tác xã và quỹ làng mua sắm toàn bộ đồ dùng gia đình. Hội phụ nữ xã may vá quần áo theo mùa vụ… Kèm theo là danh sách dài dằng dặc các gia đình ủng hộ tiền gạo, thuốc men, quần áo cho gia đình anh Bâu.

Chị Năm nói với chúng tôi:

- Lúc đầu em định đi ăn xin về nuôi nhà em và thuốc thang cho các cháu. Nhưng … chị xúc động nói tiếp:

- Làng xóm đối với vợ chồng em còn hơn bát nước đầy. Thùng gạo kia, chị chỉ tay, cứ vơi là bà con người một nhúm, người vài bơ mang đến đổ vào cho em. Không phải ăn uống tốn gạo đâu, mà lúc bí em phải xúc đi bán lấy tiền thêm vào thuốc men cho các cháu.

Rồi chị kể tên những người hàng chục năm liền thường xuyên tận tình lui tới giúp đỡ gia đình chị cả vật chất lẫn tinh thần. Bà Vân, chị Bao, ông Cần, chị Lạc, chú Minh, anh Thám xóm 1. Anh Đường, bà Đang, ông Hưng, ông Mầm, bà Tắc xóm 2. Cụ Phiếu, ông Tỉnh, anh Thảo, bà Cân, chị Hoà xóm 3. v.v…

Chị Năm bảo:

- Những lúc bệnh nặng, nhà em bi quan nói chẳng thiết sống làm gì. Nhưng nghĩ đến tình xóm làng, nhà em lại bảo: mẹ Năm cố chạy chữa để bố con tôi khỏi, bố con tôi còn trả ơn dân làng. Em bảo, cái nợ tình nghĩa với dân làng lớn lắm anh ạ, kiếp này vợ chồng mình không trả được đâu. Nhà em ngồi lặng đi rân rấn nước mắt.

*

* *

Nước mắt và lòng người cứu được tâm linh và làm dịu bớt cơn đau thân thể, nhưng không tẩy được chất độc da cam lắng sâu trong gan óc con người. Những ngày hè 1994 là những ngày cuộc đời anh Bâu bi đát nhất. Cổ và mặt anh tự dưng đùn ra những u cục nửa sần sùi, nửa mọng nước bóng nhẵn. Thần sắc anh tái nhợt, nửa phía trên vàng xạm, nửa phía dưới phù thũng. Anh bảo, trong người như có dòng khí nóng lan toả từ ức, chảy ra hai bên mạng sườn rồi xối xuống bàng quang. Mỗi lần như vậy anh lại tiểu ra huyết, rôi lịm đi. Đi viện cấp cứu, bệnh viện Tiền Hải yêu cầu máu tiếp cho anh. Ngay hôm ấy mười hai người ở xóm 4, xóm 1, xóm 2 lên tận bệnh viện huyện tình nguyện hiến máu cứu anh.

Nhờ tận tình của các thầy thuốc và gần 2 lít máu của dân làng, “thần chết” một lần nữa lại buộc phải buông tha anh. Nhưng căn bệnh hoang tưởng, tâm thần lại xuất hiện. Anh thờ ơ như người vô thức. Lúc cười mãn nguyện vô tư như chưa hề biết bốn đứa con đã qua đời. Lúc ôm mặt khóc hu hu, nói nhảm, đòi mọi người trả con cho anh. Giữa những ngày ấy, ba đứa con còn lại của anh, hai đứa mù, câm, dần dần phù thũng, nhợt bệnh, da bụng dộp từng mảng, chỗ mòng mọng, chỗ sù sì. Rồi những ngày sau đó, chúng dắt nhau dò dẫm, lần ra cầu ao, lại y như cảnh tượng ba người chị mười năm trước xuống ao ngâm mình. Ngâm nước chừng một tiếng, chúng lại bò lên bờ phơi nắng. Khô người lại nhoài xuống ngâm nước. Nhiều hôm trưa quá, gọi lên ăn, không lên cứ đằm mãi dưới ao. Sợ con đói, chị Năm mang khoai luộc, hôm thì nắm cơm ra tận cầu ao dứ cho chúng lên ăn. Chúng vẫn không chịu, cứ nằm dưới nước há mồm, chị phải đút cho từng đứa. Ăn vài miếng chúng lại lùi ra xa, rúc vào đám bèo tây, thò đầu lên.

Đứng trên bờ nhìn các con ngâm nước đến cổ, linh tính như mách bảo chị, đó là dấu hiệu cuối cùng chúng sắp vĩnh biệt mẹ cha. Chừng nửa tháng sau, những u cục, bọc nước ở bụng, ở lưng vỡ ra đỏ ỏn. Hai đứa đau đớn, run rẩy nhưng vẫn cố sức bò ra cầu ao. Chị Năm bảo, hình như hai cháu vừa đau, vừa xót nên chỉ ngâm nước một tí lại bò lên. Chị phải dùng khăn thấm nước và mủ trên các vết loét rồi rắc thuốc sunpha vào cho khô. Mấy ngày sau đó các cháu không còn đủ sức dò dẫm ra cầu ao nữa. Cả hai nằm liệt trên giường đến ngày 13 tháng 9 năm 1994 thì trút hơi thở cuối cùng.

Anh Bâu ngồi rầu rĩ tựa lưng vào bức tường trước cửa, hai tay xếp lên đầu gối, nước mắt giàn giụa. Bẩy mặt con chết sáu, còn một tiều tuỵ run rẩy, hỏi người cha nào không xót đau. Mất trí, vô thức như anh mà nước mắt vẫn ròng ròng.

Dân làng Hưng Hải đến hỏi thăm, chia buồn mỗi lúc một đông. Nhìn hai cỗ quan tài đặt song song giữa nhà, nhiều người cảm kích cho rằng, cái chết của cháu Vinh, cháu Canh và bốn đứa con trước của anh Bâu cũng giống cái chết của người chiến sỹ hy sinh nơi mặt trận. Vì chiến tranh và các chất độc của người Mỹ, cháu mới đau đớn, khắc khoải, mới phải ra đi vĩnh biệt cõi đời. Khi mọi người xúm lại khiêng hai cỗ quan tài mang đi, chị Năm vật vã lăn ra đất, anh Bâu ôm mặt khóc hu hu. Nỗi đau từ vợ chồng anh truyền thành nỗi đau của mọi người. Mất mát quá lớn, anh Bâu phát điên, phát dại. Gặp ai cũng chắp tay vái lạy nhờ tìm giúp con.

Chị Năm kể, đêm ấy khoảng 12 giờ khuya, chị thấy anh lần xuống bếp, tìm cái cuốc vác lên vai, lùi lũi ra ngõ, đi về phía nghĩa địa đầu làng. Một lúc lâu lâu không thấy anh quay về, chị giật mình. Sợ anh đau quá hoá quẫn, chị vội vàng chạy theo tìm anh. Ra tới đầu nghĩa địa, thấy một bóng người đang lúi húi bên những nấm mồ các con của chị, chị rợn gai người, rồi trấn tĩnh bước lại. Đến sát cái bóng bên nấm mộ, chị bấm đèn pin và thoảng thốt kêu lên:

- Trời ơi, sao anh lại làm thế. Sao anh lại đào mộ con anh lên thế này.

Anh Bâu dừng cuốc, mắt lừ lừ nói như khóc:

- Tôi đi tìm các con tôi. Tại sao các người lại vùi con tôi ở đây.

Chị Năm giằng lấy cây cuốc, kéo tay anh:

- Anh điên rồi, các con đã chết, tìm làm sao được chúng.

Anh Bâu vùng vằng chỉ tay:

- Không, con tôi đây này, trả con tôi đi…

Vừa lúc ấy, mấy người cùng xóm đã chạy theo chị Năm ra tới nghĩa địa. Một người bảo:

- Sao lại đi tìm con dưới mộ, anh ấy điên thật rồi.

- Của đau, con xót. Đau xót quá đấy mà. Dìu anh ấy về đi.

Mọi người xúm lại giằng kéo, xiêu vẹo, sấp ngửa, chật vật mãi mới đưa được anh Bâu về nhà.

Tháng 7 năm 1996, khi tôi viết câu chuyện này, anh Bâu đang nằm cấp cứu ở bệnh viện huyện Tiền Hải. Chất độc hoá học từ gan óc tiếp tục tàn phá cuộc đời vô thức của anh. Anh bị xuất huyết và đau nhức toàn thân. Vợ anh bảo, mấy ngày qua anh sống được là nhờ máu của dân làng, của bệnh viện tiếp cho. Bà con xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4 thay nhau lên viện trong nom, săn sóc anh cả ngày lẫn đêm.

Những giọt nước mắt và lòng tốt của dân làng, tuy không cứu được các con anh Bâu, nhưng đã làm dịu bớt cơn đau dày vò tâm thể của anh./.

Truyện ký của Minh Chuyên