Theo đó, Kế hoạch hành động đề ra mục tiêu chung: Hoàn thành xử lý các điểm nóng và các khu vực bị ô nhiễm CĐHH/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam; kiểm soát toàn bộ các nguy cơ ảnh hưởng của CĐHH/dioxin đối với sức khỏe con người để không gia tăng nạn nhân; rà soát, xác định các nạn nhân CĐHH/dioxin ở Việt Nam, hỗ trợ nạn nhân vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng; có đủ năng lực để đánh giá, kiểm soát, xử lý, phân tích, quản lý hiệu quả toàn bộ các hoạt động khắc phục hậu quả chất độc hóa học/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể: Hoàn thành xử lý triệt để 100% các điểm nóng và các khu vực bị ô nhiễm chất độc hóa học/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam; năm 2025 hoàn thành xử lý ô nhiễm tại khu vực sân bay A So (tỉnh Thừa - Thiên Huế), khu vực sân bay Phù Cát (tỉnh Bình Định); trước năm 2030 hoàn thành xử lý tại khu vực sân bay Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) và các khu vực mới phát hiện. Đến năm 2025 kiểm soát được trên 85% nguy cơ phơi nhiễm CĐHH/dioxin từ các điểm nóng, khu vực ô nhiễm, đến năm 2030 đạt 100% để không làm gia tăng nạn nhân ở các khu vực này. Đến năm 2030 hoàn thành việc xác định nạn nhân qua các thế hệ đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định; các nạn nhân được hưởng mức chế độ, chính sách của Nhà nước để cải thiện chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi về việc làm phù hợp, vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng, vươn lên trong cuộc sống. Đảm bảo 100% phụ nữ có thai tại các vùng ô nhiễm nặng và 100% nạn nhân được quản lý thai nghén, được tư vấn sinh sản nhằm giảm nguy cơ gia tăng nạn nhân ở các thế hệ tiếp theo. Xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu, thông tin đáp ứng các yêu cầu quản lý các hoạt động khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin sau chiến tranh…

Để thực hiện được mục tiêu trên, Kế hoạch hành động của Chính phủ đề ra 6 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể:

Một là: Tổ chức rà soát, xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật, quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn về khắc phục hậu quả chất độc hóa học/dioxin. Khẩn trương tổ chức rà soát, xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật, các văn bản hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ những tồn tại, hạn chế, khó khăn, sớm hoàn thành việc xác định toàn bộ những nạn nhân qua các thế hệ; nghiên cứu điều chỉnh các quy định nhằm bảo đảm các nạn nhân được hưởng mức chế độ, chính sách của Nhà nước phù hợp để có thể cải thiện chất lượng cuộc sống, được tạo điều kiện thuận lợi về việc làm phù hợp, vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng, vươn lên trong cuộc sống. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn về quan trắc, đánh giá, xử lý chất độc hóa học/dioxin theo hướng bảo đảm an toàn đối với sức khỏe con người, môi trường, phù hợp với những quy định của quốc tế và tính đặc thù về ô nhiễm ở Việt Nam.

Hai là: Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam. Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trong nước, quốc tế để thúc đẩy mạnh mẽ công tác khắc phục hậu quả chất độc hóa học/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam. Chú trọng sử dụng các phương tiện truyền thông trong nước, quốc tế có uy tín; tổ chức các dự án, chương trình tuyên truyền về những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong xử lý ô nhiễm CĐHH/dioxin ở các điểm nóng và kết quả chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân; nâng cao nhận thức để chủ động phòng tránh phơi nhiễm, giảm thiểu tác hại đối với con người. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền nhằm tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giải quyết hậu quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam", các quy định về chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH trong Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020 và các văn bản có liên quan.

Ba là: Đẩy nhanh tiến độ tổ chức xử lý CĐHH/dioxin, kiểm soát các nguy cơ phơi nhiễm, ngăn chặn gia tăng nạn nhân. Tổ chức thực hiện các dự án xử lý CĐHH/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam theo đúng tiến độ; đảm bảo năm 2025 hoàn thành xử lý ô nhiễm tại khu vực sân bay A So (tỉnh Thừa Thiên - Huế), khu vực sân bay Phù Cát (tỉnh Bình Định); trước năm 2030 hoàn thành dự án xử lý ô nhiễm tại khu vực sân bay Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai); tiếp tục thực hiện các dự án, nhiệm vụ điều tra, đánh giá, khoanh vùng, xử lý kịp thời để không gia tăng nạn nhân ở các khu vực này. Tổ chức thực hiện các biện pháp phù hợp, hiệu quả để kiểm soát các nguy cơ phơi nhiễm CĐHH/dioxin đối với con người, môi trường; bảo đảm phụ nữ có thai tại các vùng ô nhiễm nặng và các nạn nhân được quản lý thai nghén, được tư vấn sinh sản nhằm giảm nguy cơ gia tăng nạn nhân ở các thế hệ tiếp theo.

Bốn là: Bảo đảm thực hiện chế độ, chính sách đối với nạn nhân CĐHH/dioxin. Thường xuyên tổ chức thực hiện tốt các chế độ, chính sách của Nhà nước kết hợp với các chương trình, dự án, đề án từ nguồn vốn huy động của các tổ chức, cá nhân trong nước, quốc tế theo quy định của pháp luật, bảo đảm tất cả các nạn nhân được cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, vượt qua khó khăn, được tạo điều kiện thuận lợi về việc làm phù hợp, để có thể hòa nhập cộng đồng, vươn lên trong cuộc sống. Tiếp tục tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ điều tra, khảo sát, thống kê, xác định nạn nhân; tổ chức nghiên cứu bổ sung đối tượng là thế hệ thứ 3, thế hệ tiếp theo và những người làm nhiệm vụ ở các điểm nóng bị ô nhiễm CĐHH/dioxin từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay.

Năm là: Tăng cường quản lý Nhà nước, nâng cao năng lực, tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin. Phát huy vai trò của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 701 trong chỉ đạo, điều phối, phối hợp liên ngành. Kiện toàn tổ chức, đào tạo, bố trí cán bộ phù hợp, đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, tiếp tục xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin, đảm bảo đến năm 2025 các cơ quan, đơn vị được nâng cao năng lực ở mức tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu đánh giá, quan trắc, kiểm soát, xử lý, chăm sóc sức khỏe, cải thiện chất lượng cuộc sống của nạn nhân, quản lý hiệu quả các hoạt động khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam. Tiếp tục thực hiện các chương trình, dự án, đề án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin đối với sức khỏe con người, môi trường; chú trọng các nghiên cứu giải quyết những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong xác định nạn nhân qua các thế hệ; tổ chức nghiên cứu, chuyển giao công nghệ kiểm soát, xử lý ô nhiễm CĐHH/dioxin; tổ chức nghiên cứu, áp dụng các mô hình tiên tiến, xây dựng các dự án hình thành trung tâm chăm sóc, chữa trị, phục hồi chức năng, cải thiện chất lượng cuộc sống, tạo việc làm phù hợp với nạn nhân; tổ chức nghiên cứu kỹ thuật tiên tiến phát hiện sớm, can thiệp sớm dị tật, khuyết tật, quản lý thai nghén, tư vấn sinh sản cho nạn nhân và các đối tượng có nguy cơ.

Sáu là: Tăng cường hợp tác quốc tế và xã hội hóa công tác khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin. Tổ chức đánh giá hiệu quả các dự án hợp tác quốc tế về khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin trong thời gian qua. Rà soát những cam kết, thỏa thuận quốc tế, phát huy những bài học kinh nghiệm đã đạt được để xây dựng các chương trình hợp tác nhằm thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới. Tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế để thu hút sự quan tâm, ủng hộ của các nước, các tổ chức quốc tế trong bảo đảm nguồn lực tài chính, trang thiết bị, công nghệ, đào tạo cán bộ, chia sẻ kinh nghiệm nhằm đẩy nhanh công tác khắc phục hậu quả CĐHH/dioxin sau chiến tranh ở Việt Nam…