Chủ nhật, 11/10/2020 | 21:25

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG 90 NĂM, TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

TRƯƠNG THỊ MAI*

Được xác định là nhiệm vụ chiến lược của sự nghiệp cách mạng từ những ngày Đảng còn hoạt động bí mật cho đến khi trở thành Đảng cầm quyền duy nhất, đồng hành cùng lịch sử vẻ vang của dân tộc, của Đảng xuyên suốt các thời kỳ đấu tranh giành độc lập, kháng chiến chống thực dân, đế quốc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực tiễn phong phú, sinh động của công tác dân vận 90 năm qua (15/10/1930 – 15/10/2020) là minh chứng khẳng định lời dạy sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

90 năm gắn bó máu thịt với nhân dân: Những chặng đường lịch sử công tác dân vận của Đảng

Tháng 10/1999, nhân kỷ niệm 50 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận”[1], theo đề nghị của Ban Dân vận Trung ương, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã đồng ý lấy ngày 15/10/1930 là Ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng và quyết định chọn ngày 15/10 hằng năm là Ngày Dân vận của cả nước để đẩy mạnh việc học tập và thực hiện những lời dạy của Bác[2]. Trải qua 90 năm xây dựng và trưởng thành, công tác dân vận luôn là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng, góp phần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ những trải nghiệm qua hàng chục năm tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cho cách mạng Việt Nam, đó là “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, với vai trò lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính, đã chỉ ra nguồn gốc sức mạnh của Đảng là từ sức mạnh to lớn của nhân dân, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Những năm tháng đi khắp các châu lục Âu, Á, Mỹ, Phi, người thanh niên cần lao vô sản Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay vào công việc vận động quần chúng yêu nước, thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp (1917), thay mặt Hội và đại diện cho một dân tộc đã bị mất tên trên bản đồ thế giới gửi tới Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam (6/1919) gây chấn động chính trường Pháp và thế giới; cùng với một số nhà hoạt động cách mạng châu Phi thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp (1921), xuất bản báo Người cùng khổ; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á (1925), xuất bản tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp; thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc - 1925), trực tiếp huấn luyện những chiến sĩ trung kiên làm hạt nhân đi sâu vào quần chúng tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, gieo niềm tin cách mạng và tinh thần đoàn kết trong các giai tầng xã hội qua tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), tạo nên bước ngoặt lịch sử bằng việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/2/1930. Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định những nội dung cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của dân tộc và nguyện vọng tha thiết của đại đa số nhân dân, đề ra sách lược thu hút, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân làm thành lực lượng cách mạng đi theo lá cờ tiên phong của Đảng.

Trước tình hình các tổ chức quần chúng chỉ có 2.747 hội viên ở Bắc Kỳ, 327 hội viên ở Nam Kỳ[3], ngay sau Hội nghị thành lập, đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và toàn thể đồng bào bị áp bức, bóc lột, Người nhấn mạnh “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng"[4]. Xác định tập hợp lực lượng quần chúng là nhiệm vụ chính trị cấp thiết để đối phó với “khủng bố trắng” và chính sách mị dân của chính quyền thuộc địa, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (từ ngày 14 – 31/10/1930 tại Hồng Kông) đã thông qua các án nghị quyết về công nhân vận động, nông dân vận động, cộng sản thanh niên vận động, phụ nữ vận động, quân đội vận động, vấn đề cứu tế và đồng minh phản đế. Nghị quyết Hội nghị xác định rõ "Trong các Đảng bộ thượng cấp (từ thành và tỉnh ủy trở lên) phải tổ chức ra các Ban chuyên môn về các giới vận động"[5], đặt nền tảng cho sự ra đời nhanh chóng hệ thống Ban chuyên môn và đội ngũ cán bộ về các giới vận động của Đảng, bao gồm Công vận, Nông vận, Thanh vận, Phụ vận, Quân đội vận, Mặt trận phản đế làm nhiệm vụ tổ chức, tập hợp lực lượng, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân tham gia các phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi hỏi dân sinh, dân chủ ở nhiều nơi dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất, thể hiện nhận thức của Đảng từ nhấn mạnh đoàn kết giai cấp đến nâng cao tầm quan trọng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Những cán bộ, đảng viên lớp đầu tiên đã thực hiện "vô sản hóa", "ba cùng" với nhân dân, tuyên truyền, giác ngộ và thành lập các tổ chức quần chúng đoàn kết xung quanh Đảng, tạo sức mạnh và động lực cho cách mạng theo đường lối "Đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Cao trào cách mạng 1930-1931, với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh là mốc son sáng chói đánh dấu việc lần đầu tiên một đảng cách mạng dù còn rất non trẻ đã thể hiện vai trò, bản lĩnh, uy tín, sức chiến đấu và khả năng to lớn trong việc lãnh đạo, đoàn kết, huy động quần chúng nhân dân, như lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là “một phong trào quần chúng mạnh lớn xưa nay chưa từng có ở nước ta”, “chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam[6]. Trong những năm tháng khó khăn, gian khổ nhất khi chính quyền thực dân thi hành “khủng bố trắng”, sử dụng mọi thủ đoạn dã man, tàn bạo nhằm đàn áp, triệt tiêu, cắt đứt mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, cơ sở cách mạng thì niềm tin yêu tuyệt đối của nhân dân, sự hy sinh, che chở, bảo vệ của nhân dân đã làm nên sức mạnh giúp Đảng kiên cường, vững vàng vượt lên những mất mát, tổn thất, đối mặt mọi thách thức cam go, giữ vững được niềm tin của nhân dân vào tương lai cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng. Chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng về mở rộng đại đoàn kết toàn dân, tăng cường công tác mặt trận đã tạo nên bước phát triển mới trong xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, bao gồm nhân sĩ, trí thức, tư sản dân tộc và cả ngoại kiều… bằng các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp thúc đẩy các phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939), phong trào Phản đế (1939-1941) và phong trào Mặt trận Việt Minh (1941-1945). Ngày 19/5/1941, Hội nghị lần thứ 8 Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định đổi tên Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thành Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh với những chính sách đúng đắn, có sức lan tỏa rộng rãi đã trở thành trung tâm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân ở mọi miền Tổ quốc hăng hái tham gia các tổ chức “cứu quốc”[7], nhanh chóng phát triển lực lượng từ nông thôn đến thành thị, từ vùng cao đến đồng bằng, khơi dậy tinh thần yêu nước nồng nàn và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông, tạo thành khí thế cách mạng sục sôi, đóng góp quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã khẳng định tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên, là ngọn cờ đoàn kết, tập hợp đông đảo nhân dân, thắng lợi của nghệ thuật, chiến lược vận động quần chúng của Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó[8]. Chỉ với vài ngàn đảng viên, Đảng đã đặt niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh to lớn của nhân dân, gắn bó máu thịt, thấu hiểu nguyện vọng của nhân dân, dựa vào sự ủng hộ của nhân dân; tuyên truyền giác ngộ nhân dân hiểu rõ con đường giành độc lập, tự do, mưu cầu hạnh phúc; tổ chức tập hợp nhân dân vào mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hình thức tổ chức khác một cách linh hoạt; hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, đồng tâm hợp lực khởi nghĩa đánh đổ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chính quyền công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Từ kinh nghiệm sâu sắc về xây dựng lực lượng cách mạng, trong suốt 30 năm (1945 – 1975) lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác dân vận luôn được Đảng quan tâm, củng cố, tiến hành thường xuyên trong mọi hoàn cảnh, địa bàn, hướng tới mọi tầng lớp nhân dân để tập hợp, khơi lên nguồn sức mạnh tổng hợp bằng các phong trào cách mạng thiết thực. Nhận thức sâu sắc về nguy cơ kẻ thù phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, Chỉ thị về công tác dân vận của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày 01/9/1947 nhấn mạnh:“Quân địch đang dùng những thủ đoạn tàn bạo xảo trá, hòng chia rẽ lừa dối nhân dân và làm cho nhân dân hoang mang. Vậy công việc dân vận trong lúc này là một công tác quan trọng của Hội”[9]; đi đôi với nhiệm vụ xây dựng Đảng để giữ vững vai trò lãnh đạo, củng cố niềm tin của nhân dân, trong tác phẩm nổi tiếng “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở “Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được rời xa dân chúng. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại[10] và chỉ ra động lực để thúc đẩy phong trào quần chúng “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân[11]. Các hình thức và biện pháp củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc được mở rộng với sự thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên - Việt) vào 29/5/1946, thống nhất Việt Minh, Liên Việt thành Mặt trận Liên - Việt (03/3/1951), thu hút thêm các đảng phái yêu nước, đồng bào yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, sắc tộc, xu hướng chính trị. Phong trào thi đua ái quốc là hình thức tập hợp toàn dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động, nhanh chóng được mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng sâu rộng, tạo thành sức mạnh cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc; cổ vũ, động viên toàn quân, toàn dân, khơi dậy ý chí cách mạng, nhiệt huyết phấn đấu, hy sinh, thi đua lao động, sản xuất vì Tổ quốc, đồng thời, tăng cường công tác địch vận, làm tan rã hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền; hàng chục ngàn dân công hướng ra tiền tuyến vận tải lương thực, thực phẩm, vũ khí phục vụ các chiến dịch, đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Giai đoạn 1954-1975, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền, miền Bắc trở thành hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ ỏ miền Nam, nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận và các đoàn thể nhân dân vững mạnh luôn được quan tâm. Ngày 10/9/1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời, tăng cường đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ, động viên đồng bào, chiến sĩ nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tất cả vì miền Nam ruột thịt. Tại miền Nam, ngày 20-12-1960, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam họp tại căn cứ Tây Ninh quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhờ chú trọng đổi mới nội dung và phương thức, công tác dân vận được triển khai sâu rộng trong các cấp, các ngành, các lĩnh vực, các tầng lớp nhân dân trong nước và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; làm chỗ dựa vững chắc cho quân và dân miền Nam[12] tổ chức nhiều phong trào đấu tranh sâu rộng, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước bước sang thời kỳ mới - thời kỳ hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), trong năm 1976, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã được hợp nhất và thống nhất chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở[13].

Đại hội VI của Đảng (1986), với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và cán bộ, đổi mới phong cách làm việc đã đánh dấu bước chuyển quan trọng, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước, đáp ứng mong đợi của nhân dân và hệ thống chính trị. Báo cáo chính trị tại Đại hội nhấn mạnh bài học đầu tiên trong 4 bài học lớn được rút ra qua thực tiễn các mạng, đó là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”; “phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân”[14]. Tư tưởng này tiếp tục được phát triển, khẳng định mạnh mẽ, sâu sắc trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) ““Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”. Trong không khí đổi mới, nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân”, đảm bảo điều kiện cho Đảng vươn lên ngang tầm nhiệm vụ đặt ra yêu cầu cấp bách về đổi mới nội dung và phương thức công tác dân vận của Đảng. Trên cơ sở đó, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW, ngày 27-3-1990 về Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân tập trung khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên quan liêu, mệnh lệnh, xa dân, chuyên quyền, độc đoán, tham ô, hối lộ, sống xa hoa, lãng phí, làm giảm nhiệt tình cách mạng, hạn chế việc phát huy khả năng to lớn của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Công tác dân vận đặt phải đáp ứng yêu cầu đổi mới, tiến hành đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị; tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân, kết hợp hài hòa các lợi ích và nghĩa vụ công dân; đa dạng hóa các hình thức tập hợp; nêu cao trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể đối với công tác quần chúng của Đảng.

Những thành tựu to lớn, quan trọng của 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 tiếp tục khẳng định sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là điều kiện đảm bảo vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng. Các văn kiện qua 6 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc luôn chú trọng kiểm điểm, đánh giá về xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, từ đó đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác vận động quần chúng sát hợp với yêu cầu, kế hoạch phát triển đất nước trong từng giai đoạn cụ thể. Tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản, đó là: Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18/02/1998 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; các Nghị quyết số 23, 24, 25, khoá IX (năm 2003) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc, công tác tôn giáo; Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 về "Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị"; các văn bản tạo điều kiện cho nhân dân, các tổ chức quần chúng tham gia góp ý, giám sát, phản biện góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh như Quyết định 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quyết định 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Quyết định 124-QĐ/TW, ngày 02/02/2018 về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên… Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 3/6/2013 về "Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, trên cơ sở đánh giá tình hình, làm rõ các thách thức đối với công tác dân vận trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Nghị quyết khẳng định 5 quan điểm, 7 nhiệm vụ thực hiện công tác dân vận trong tình hình mới. Bên cạnh đó, nhiều văn bản của Đảng liên quan đến công tác dân vận, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng được ban hành nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị đối với công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và nỗ lực của cả hệ thống chính trị, công tác dân vận tiếp tục được tăng cường, đổi mới và đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác dân vận của cơ quan nhà nước được chú trọng đẩy mạnh, từ năm 2018, việc thực hiện “Năm dân vận chính quyền” với 6 nội dung trọng tâm được triển khai đồng bộ ở các cấp chính quyền, tăng cường trách nhiệm đối với cuộc sống, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; nâng cao đạo đức công vụ, tinh thần phục vụ, tạo điều kiện cho nhân dân giám sát, tham gia xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh theo hướng “thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội hướng về cơ sở, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, mở rộng hoạt động giám sát, phản biện, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền. Các phong trào thi đua yêu nước được đẩy mạnh gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phong trào thi đua “Dân vận khéo”, với hàng vạn mô hình, điển hình dân vận khéo, qua đó, lan tỏa sâu sắc giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Dân vận” vào thực tiễn cuộc sống, nêu cao tinh thần trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị với nhân dân. Đội ngũ cán bộ dân vận được kiện toàn, nâng cao năng lực, tham mưu cho Đảng lãnh đạo, đổi mới công tác dân vận đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phối hợp đẩy mạnh công tác dân vận trong hệ thống chính trị, chú trọng công tác dân vận của chính quyền các cấp; góp phần tạo đồng thuận xã hội, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Những kết quả quan trọng đó đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tiếp tục khẳng định cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong thực tiễn.

Phát huy truyền thống, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới

Trong suốt 90 năm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận thức sâu sắc sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và yêu cầu xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, quán triệt tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã khẳng định “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mặc dù bối cảnh trong và ngoài nước còn nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế nước ta vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, chất lượng được cải thiện, kinh tế vĩ mô ổn định khá vững chắc; phúc lợi, an sinh xã hội được tăng cường, dịch bệnh được kiểm soát, các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao; quốc phòng an ninh, đối ngoại được giữ vững; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được quan tâm toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đạt nhiều kết quả tích cực, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa được củng cố. Một trong những bài học kinh nghiệm được rút ra, đó là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định "dân là gốc", thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đảng phải chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phải kiên quyết, tích cực làm trong sạch đội ngũ cán bộ của Đảng, khắc phục các hiện tượng sa sút, thoái hoá về phẩm chất, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, củng cố và xây dựng các tổ chức đảng thật trong sạch, vững mạnh, làm cho Đảng thật sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân[15] .

Thời gian tới, tình hình quốc tế, khu vực có nhiều thay đổi phức tạp, nhanh chóng, khó lường; tình hình trong nước vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, đời sống nhân dân; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, kiểm soát quyền lực còn một số hạn chế phải nhanh chóng khắc phục.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục xây dựng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đối ngoại, phát triển đất nước ở mức độ cao hơn. Nhận thức động lực phát triển của đất nước giai đoạn tới chính là tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, văn hóa và con người Việt Nam, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đồng thời, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là năng lực lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trên cơ sở đó, công tác dân vận của Đảng phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu đặt ra, tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

- Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động về công tác dân vận của các cấp ủy đảng và của cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, sáng tạo; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên; tạo đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Tập trung làm tốt công tác dân vận của các cơ quan nhà nước các cấp, trọng tâm là:

+ Phát huy vai trò tham gia của nhân dân trong quá trình xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật; bảo đảm hài hoà lợi ích hợp pháp, chính đáng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân gắn với lợi ích quốc gia – dân tộc, quan tâm địa bàn khó khăn, đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hoá cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nâng cao chất lượng, khắc phục tính hình thức trong hoạt động tiếp xúc cử tri, hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân.

+ Nâng cao đạo đức công vụ, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực thi công vụ; phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ quản lý, lãnh đạo, người đứng đầu trước nhân dân. Kiên quyết phê phán, đấu tranh biểu hiện thờ ơ, vô cảm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm với nhân dân; đồng thời, nâng cao trách nhiệm công dân, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

+ Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, sâu sát cơ sở, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; khắc phục tình trạng chậm hoặc không nắm được tình hình nhân dân. Tập trung xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề bức xúc liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, tránh để hình thành và lan rộng các điểm nóng về an ninh, trật tự xã hội.

- Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận. Phát huy vai trò, tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và tổ chức của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo hướng có trọng tâm, thực chất, hiệu quả hơn; nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội. Quan tâm lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách động viên đội ngũ cán bộ làm công tác mặt trận, dân vận, đoàn thể; kiên quyết không bố trí cán bộ thiếu gương mẫu, đạo đức kém, vi phạm kỷ luật làm công tác dân vận.

- Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng; nâng cao vai trò trách nhiệm và tính gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, tổ chức; kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, luận điệu sai trái.

- Phối hợp, thực hiện có hiệu quả Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; tích cực đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận.

Với truyền thống vẻ vang 90 năm, công tác dân vận của Đảng đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân trong chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước với mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng; trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Nước đòi hỏi công tác dân vận phải không ngừng phát huy truyền thống, nâng cao năng lực vận động quần chúng, làm tốt vai trò là cầu nối quan trọng giữa Đảng với nhân dân, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới./.


* Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương

[1] - Đăng trên báo Sự thật, số ra ngày 15/10/1949.

[2] - Thông báo ý kiến của Bộ Chính trị số 293-CV/TW, ngày 14/10/1999.

[3] - “Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, ngày 18/02/1930”, Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ ba (2010), tập 3, tr.15.

[4] - Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, xuất bản lần thứ nhất (2002), tập 2, tr.16.

[5] - Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 2, tr.119

[6] - Hồ Chí Minh, “Ba mươi năm hoạt động của Đảng”, bài viết cho Tạp chí Những vấn đề hoà bình và chủ nghĩa xã hội (số 2-1960) nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, in trong sách Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.10

[7] - Hội Nông dân Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Tự vệ cứu quốc…

[8] - “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG Sự thật, 2011, Tập 2, tr.19.

[9] - Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đảng toàn tập, Sđd, Tập 8, tr.285.

[10] - Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, Tập 5, tr.278.

[11] -Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, Tập 5, tr.285.

[12] - Công tác dân vận, tuyên truyền tuyển quân chi viện cho miền Nam góp phần trong 3 năm (1973-1975) có gần 50 vạn thanh niên nhập ngũ; riêng trong 2 năm 1973-1974 đã có 379.000 tấn vật chất từ miền Bắc chuyển vào các mặt trận, bằng 54% tổng khối lượng vật chất giáo cho chiến trường trong suốt 16 năm trước đó; trong các năm 1972-1974, hàng ngàn cán bộ làm công tác tư tưởng đã được đưa vào miền Nam tuyên truyền, động viên chiến đấu (Ban Dân vận TW, Lịch sử công tác dân vận của Đảng CSVN, NXB Chính trị quốc gia, 2015, tr.353)

[13] - Ngày 25/4/1976, nhân dân cả nước thực hiện cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cả nước; kỳ họp đầu tiên của Quốc hội thống nhất diễn ra từ ngày 24/6-02/7/1976; Ban Bí thư ra Quyết định số 253-NQ/TW ngày 24/5/1976 về việc thống nhất các đoàn thể nhân dân và thống nhất Mặt trận, trên cơ sở đó hội nghị hợp nhất các đoàn thể được tổ chức: Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh (ngày 26/3/1976); Tổng Công đoàn Việt Nam (6-8/6/1976); Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (10-12/6/1976); Hội Liên hiệp Thanh niên VN (20-21/9/1976); Mặt trận Tổ quốc VN (31/1 – 04/2/1977).

[14] - Báo cáo chính trị Đại hội VI, Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 47, tr.710.

[15] - Bài viết “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới” của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhân dịp kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9 (1945-2020)