Thứ ba, 19/05/2020 | 08:13

Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đặt nền móng cho mối quan hệ Việt - Mỹ và vấn đề da cam

LTS: Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu cũng là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn thể NNCĐDC và những người làm công tác hội chúng ta cùng ôn lại các tư liệu, mẩu chuyện lịch sử về Bác Hồ, tưởng nhớ công ơn của Người, nguyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, về tầm nhìn đối ngoại nói chung và về thực tiễn quan hệ Việt - Mỹ, trong đó có đối ngoại nhân dân với Mỹ, mà Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam (Hội) đang tích cực tham gia. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt - Mỹ và vấn đề Da cam là một chủ đề bao quát nhiều khía cạnh, nội dung, từ triết lý đến hành động, phong cách ứng xử. Bài viết này là một “lát cắt” rất nhỏ của tư tưởng đó.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đặt nền móng cho quan hệ Việt - Mỹ
Theo Lịch sử Việt Nam, những tín hiệu mong muốn bang giao giữa Mỹ và Việt Nam bắt đầu từ năm 1832 - khi Tổng thống Andrew Jackson gửi tới vua Minh Mạng bức thư đề nghị đặt quan hệ thương mại với Việt Nam, xây dựng nền tảng ngoại giao lâu dài. 13 năm sau - năm 1845, con tàu mang tên Constitution của Hoa Kỳ đến Đà Nẵng, xảy ra sự cố. Sau đó, Tổng thống Mỹ Zachary Taylor đã viết thư xin lỗi vua Tự Đức. Đầu thập kỷ 70 thế kỷ XIX, vua Tự Đức muốn tìm đến người bạn lớn Mỹ để chống thực dân Pháp… Song, vì các lý do khác nhau, mong muốn đã không thành.
Lịch sử quan hệ Việt - Mỹ thời hiện đại, cận đại bắt đầu từ hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Mỹ.
Sau khi đi qua một số nước, ngày 15/12/1912, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này) quyết định đến nước Mỹ để tìm hiểu nơi có một Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng thế giới, tìm hiểu nước Mỹ đã làm cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của đế quốc Anh, giành độc lập như thế nào? Học hỏi kinh nghiệm tìm ra con đường thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, giành lại độc lập, tự do cho đồng bào mình. Người đã ở New York và Boston.
Tại thành phố New York, Nguyễn Tất Thành vừa đi làm thuê kiếm sống, vừa nghiên cứu lịch sử nước Mỹ. Một thời gian sau, Người đến thành phố Boston, nơi nổ ra cuộc kháng chiến đầu tiên của nhân dân Mỹ chống ách đô hộ thực dân Anh. Tại đây, Người đã đọc và nghiền ngẫm bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Trong dó, Người rất thích câu:“Thượng đế sinh ra con người, ai cũng có quyền tự do bình đẳng...”. Người đã không ngừng học hỏi và tiếp thu những giá trị về tư tưởng văn hóa, nền văn minh của nước Mỹ, trong đó có tư tưởng xây dựng một nhà nước pháp quyền “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”.
Có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tìm đến nước Mỹ vào thời bấy giờ là một sự xuất dương có chọn lọc. Đây là thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu tìm hiểu nước Mỹ và người Mỹ. Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang Anh…
Thời kỳ tranh thủ đồng minh công nhận Việt Minh là lực lượng chống phát xít, tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ và cũng là thời kỳ hợp tác Việt - Mỹ đầu tiên trong lịch sử hai dân tộc
Đầu những năm 1940, cuộc chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn quyết liệt, ngày 8/2/1941, Bác trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba hải ngoại; Bác đặt bản doanh ở Pác Bó.
Từ 1941, Người đã tìm nhiều cách để liên lạc với các lực lượng đồng minh, tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ, muốn họ ủng hộ và công nhận vai trò của tổ chức yêu nước cách mạng Việt Nam. Bác đã chỉ đạo cung cấp cho quân đồng minh chống Phát xít những tin tình báo quan trọng về hoạt động của quân đội Nhật ở vùng Đông Dương. Bác chỉ thị cho Việt Minh ở chiến khu Việt Bắc phải chú ý giúp đỡ những phi công Mỹ bị pháo phòng không Nhật bắn rơi. Bác còn tự tay viết bài báo có tranh minh họa hướng dẫn cách cứu phi công Mỹ nhảy dù. Khắp Việt Bắc lúc đó gần như ai cũng thuộc một câu huấn thị của Hồ Chí Minh dưới dạng ca dao: “Bộ đội Mỹ là bạn của ta. Cứu phi công Mỹ mới là Việt Minh…”.
Những tiếp xúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với lực lượng Mỹ được thiết lập từ tháng 3/1945, sau sự kiện máy bay của trung uý phi công Mỹ Shaw bị Nhật bắn rơi. Shaw được Việt Minh cứu và đưa đến gặp Bác. Sau đó, chính Bác đã dẫn Shaw sang Côn Minh và tận tay trao lại cho tướng Chennault, Tư lệnh Sư đoàn không quân 14 “Hổ bay” của Mỹ. Chennault tiếp Hồ Chí Minh, hai bên đã đặt quan hệ hợp tác chống Nhật và hai người đã có những mối thiện cảm.
Ngay sau đó, Việt Minh đã đón tiếp một đơn vị nhỏ thuộc lực lượng OSS (Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA) tại Tân Trào với một số trang bị - đơn vị mang tên Con nai đến huấn luyện kỹ thuật vô tuyến điện và quân sự cho 40 người được chọn từ số 110 quân du kích của ông Đàm Quang Trung. Tại Nà Lừa, Tân Trào, cách lán của Hồ Chí Minh vài trăm mét là lán của đồng minh. Ngày nay, địa điểm đó vẫn được bảo tồn như một kỷ niệm đẹp đẽ của mối quan hệ Việt - Mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã làm cho người Mỹ hiểu hơn về Việt Minh và cuộc chiến đấu giành độc lập của người Việt Nam. Sau đó, người Mỹ bắt đầu coi Việt Minh như một lực lượng đồng minh chống Nhật tích cực và có thể phối hợp. Bác Hồ đề nghị gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ để học tập về kỹ thuật, nông nghiệp; đã vận động thành lập Việt - Mỹ thân hữu hội (tiền thân Hội Việt - Mỹ hiện nay) - là tổ chức hữu nghị song phương đầu tiên ở nước ta.
Trong hai năm 1945 - 1946, giai đoạn lịch sử đầy biến động và có ý nghĩa then chốt với lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều thư và điện gửi lãnh đạo Mỹ, gồm 8 thư và điện gửi Tổng thống Truman, 3 thư và điện gửi Ngoại trưởng James Byrnes. Ngoài ra, Bác gửi nhiều thư cho những người Mỹ quan tâm, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Trong thư gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman vào tháng 2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ Việt Nam mong muốn được “hoàn toàn độc lập” và ý nguyện thiết lập “hợp tác đầy đủ” với Mỹ.
Tuy nhiên, những lá thư này, những thiện chí này đã không nhận được sự hồi đáp. Lúc này, Mỹ - Pháp đã bắt tay nhau, thỏa thuận ăn chia trong các ván bài khác.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh hóa học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam và đặt nền móng giải quyết vấn đề Da cam
Ý đồ can thiệp vào Việt Nam của Mỹ đã có từ lâu. Trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), Mỹ đã giúp Pháp tái chiếm thuộc địa. Đến cuối chiến tranh, 80% chiến phí chủ yếu của Pháp do Mỹ tài trợ, lên đến 1,5 tỷ USD.
Trong trận Điện Biên Phủ, Mỹ trực tiếp chở khoảng 16 ngàn quân Pháp vào Điện Biên Phủ và hỗ trợ không quân cho quân đội Pháp. Năm 1954, cố vấn quân sự Mỹ đã bắt đầu hoạt động ở miền Nam Việt Nam, một số đã làm nhiệm vụ chiến đấu ngay từ năm 1962. Đến năm 1963 có hơn 16.000 cố vấn quân sự Hoa Kỳ. Tháng 3/1965, hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, chính thức tham chiến. Ngày 5/8/1965, Tổng thống Mỹ Giôn xơn tuyên bố mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ không chỉ dùng một lượng khổng lồ các loại bom đạn tàn phá, gây thương vong mà còn sử dụng cả chất độc hoá học nhằm triệt hạ sinh lực và nguồn sinh sống của quân và dân Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh hóa học này, Mỹ đã sử dụng trên 20 loại chất độc, 61% trong đó là chất da cam, chứa dioxin (loại chất độc nhất), xuống gần ¼ tổng diện tích miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến tranh hóa học bắt đầu từ ngày 10/8/1961, giai đoạn cao điểm là 1966- 1969, bình quân mỗi tháng có 400 phi xuất, khối lượng chất độc da cam/dioxin được rải trong 3 năm (1967, 1968, 1969) bằng trên ¾ tổng số sử dụng trong 10 năm.
Chất độc hóa học do Mỹ phun rải gây hậu quả vô cùng nặng nề đối với môi trường và sức khỏe con người: Tàn phá các cánh rừng đầu nguồn, làm đảo lộn hệ sinh thái; hàng trăm nghìn người bị nhiễm trực tiếp đã chết, hàng trăm nghìn người bị phát các bệnh hiểm nghèo, tai biến sinh sản, rất nhiều trẻ em mới sinh ra đã chết hoặc bị dị dạng, dị tật...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp căn dặn Đoàn NNCĐDC trước khi Đoàn sang Mỹ vận động dư luận quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý của NNCĐDC Việt Nam, ngày 6/6/2006

Thời gian này, trên chiến trường miền Nam, Mỹ càng sa lầy và chịu tổn thất nặng nề. Trong khi đó, cuộc chiến tranh hóa học, ngày càng bị lên án, chỉ trích mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế và cả trong chính nước Mỹ. Khoảng 500 nhà khoa học, trong đó có 17 người từng đoạt giải thưởng Nobel và 129 thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ đã ký tên phản kháng, yêu cầu Tổng thống Mỹ phải chấm dứt ngay hành động hủy diệt này. Nhiều trung tâm nghiên cứu lên tiếng cảnh báo, tố cáo sự tàn độc này đối với nhân dân Việt Nam.
Ngày 15-7-1969, Tổng thống Richard Nixon đã phải gửi bức thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện mong muốn đàm phán nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Ngày 25/8/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một bức thư trả lời Tổng thống Richard Nixon với lời lẽ đanh thép, vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ, thể hiện rõ ý chí giành độc lập đến cùng của nhân dân Việt Nam trước Hoa Kỳ. Trong thư có đoạn viết: “Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chà đạp lên các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Mỹ vẫn đẩy mạnh các cuộc hành quân càn quét, tăng cường các cuộc đánh phá bằng máy bay B52 và chất độc hóa học, gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Chiến tranh kéo dài làm cho nước Mỹ càng hao người tốn của. Tôi vô cùng công phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi; tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam vì chính sách của nhà cầm quyền Mỹ. Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hi sinh gian khổ để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình… Trong thư, ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hòa bình công bằng. Muốn vậy, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và của dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam, phù hợp với quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, với lợi ích của nước Mỹ và nguyện vọng hòa bình của nhân dân thế giới. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự”(toàn văn lá thư được Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh công bố ngày 28/8/2019).
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị Nguyên thủ quốc gia đầu tiên lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh hóa học do Mỹ tiến hành trong chiến tranh ở Việt Nam; được thể hiện trong văn kiện pháp lý vô cùng quan trọng giữa hai quốc gia; ở thời điểm đặc biệt.
Thật ra, từ cuối năm 1961, khi nhận được các báo cáo về việc Mỹ phun rải chất độc hóa học, Bác đã chỉ đạo Bộ Y tế, Quân đội cần có biện pháp trước mắt, sử dụng kinh nghiệm phòng chống độc, kịp thời cứu chữa những người bị nhiễm trực tiếp, đồng thời cần tố cáo tội ác của Mỹ và phối hợp nghiên cứu về các chất do Hoa Kỳ phun rải.
Những thành quả cách mạng do nhân dân ta tạo ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng, là các điều kiện cơ bản để xem xét và từng bước giải quyết thành công vấn đề Da cam: Cả hệ thống chính trị, toàn đảng, toàn dân, toàn quân, cả xã hội đã nỗ lực khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam. Đã tiến hành xử lý nhiều khu vực tồn lưu cao dioxin, thực hiện chính sách với NNCĐDC theo khung chính sách với “Người có công” và “Bảo trợ xã hội”, vận động chung tay chăm lo, giúp đỡ nạn nhân và tiến hành đấu tranh đòi công lý cho NNCĐDC. Trong bối cảnh chung đó, ngày 10/01/2004, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam được thành lập. Đến nay Hội đã phát triển thành hệ thống ở 63/63 tỉnh, thành, hoạt động có hiệu quả.
Quá trình khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học, giải quyết vấn đề Da cam được thực hiện trên cơ sở đường lối, chính sách đối nội và đường lối đối ngoại rộng mở, cả đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân, cả hợp tác quốc tế và giải quyết quan hệ Việt - Mỹ.
Như vậy, suy rộng ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng cho quan hệ Việt - Mỹ và khắc phục hậu quả chiến tranh, trong đó có giải quyết vấn đề Da cam.
3. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh; thực hiện chỉ đạo về Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
Khắc sâu công ơn của Người, toàn thể NNCĐDC Việt Nam và những người làm công tác hội các cấp, cần tập trung làm tốt một số việc:
a) Phối hợp với các cơ quan, các lực lượng, với các hình thức phù hợp trong điều kiện hiện nay, thực hiện chỉ đạo về Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020). Các cấp hội tham gia tích cực vào các hoạt động kỷ niệm tại địa phương. Đẩy mạnh tuyên truyền về thân thế, sự nghiệp của Bác; khẳng định sức sống trường tồn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; qua đó làm cho cán bộ, hội viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc về công lao to lớn, cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam; thể hiện lòng thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc của mỗi người đối với Bác. Cổ vũ, động viên nạn nhân và những người làm công tác hội phát huy tinh thần đoàn kết, hăng hái thực hiện tốt đường lối và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết và chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, MTTQ ở địa phương; tích cực tham gia xây dựng hội, xây dựng quê hương, góp phần vào ổn định và phát triển đất nước.
b) Mỗi cán bộ, hội viên Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam cần tích cực tham gia thực hiện Chỉ thị số 05 - CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bám sát chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, MTTQ về thực hiện cuộc vận động này để xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện trong từng năm.
c) Hội tiếp tục phát huy truyền thống “Đoàn kết - Nghĩa tình - Trách nhiệm - vì NNCĐDC”, xây dựng Hội vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chú ý điều chỉnh mô hình, hình thức hoạt động cho phù hợp. Theo gương Bác, mỗi người cần đề cao phẩm chất yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; luôn giữ vững tâm thái thực sự trong sáng, đoàn kết, nghĩa tình, minh bạch, vì nạn nhân; phối hợp tốt các lực lượng, nâng cao năng lực và hiệu quả phản ảnh, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, cấp ủy chính quyền, MTTQ.
d) Tiếp tục nghiên cứu về tư tưởng, phong cách đối ngoại Hồ Chí Minh và vận dụng trong công tác đối ngoại của Hội. Xem xét việc tổng kết và xây dựng Đề án công tác đối ngoại nhân dân của Hội trong tình hình mới phù hợp với điều kiện hoạt động của Hội. Trong đó, quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị 04 ngày 6/7/2011 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới và nhiệm vụ của Hội được xác định trong Chỉ thị 43-CT/TW; tiếp tục quan hệ với đối tác truyền thống và mở rộng quan hệ với các đối tác khác; quan tâm củng cố và phát triển quan hệ với các đối tác phía Hoa Kỳ, Anh, Pháp trong điều kiện mới.
đ) Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Hội về xây dựng “Đề án đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân trong tình hình mới”.
Cuộc đấu tranh đòi công lý của NNCĐDC trong 16 năm qua, mặc dù rất khó khăn, nhưng đã đạt được một số kết quả. Hiện nay, quan hệ Việt - Mỹ đã có nhiều đổi thay, đặc biệt khi hai bên đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện tháng 7/2013; các văn kiện hợp tác về mọi mặt được ký kết và triển khai, chuyến thăm cấp cao giữa hai nước được thực hiện khá thường xuyên, đặc biệt chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 7/2015 và Tổng thống Mỹ Donald Trump thăm Việt Nam 2 lần (11/2017 và 2/2019).
Cùng với sự phát triển của quan hệ Việt - Mỹ, việc khắc phục hậu quả chất độc da cam đã được cả hai phía đặt ra xem xét, xử lý một số bước ở cấp độ nhà nước, chính phủ, như sự phối hợp tẩy độc ở sân bay Đà Nẵng 104 triệu USD và dự kiến tẩy độc sân bay Biên Hòa 390 triệu USD, hỗ trợ cho người khuyết tật, trong đó có NNCĐDC ở 8 tỉnh, thành phố... Tuy nhiên, các bước đi đó còn rất chậm chạp, nhỏ giọt và nạn nhân không thể chờ đợi lâu hơn nữa.
Vì vậy, cuộc đấu tranh đòi công lý của nạn nhân cần được tổng kết, đánh giá, phân tích đầy đủ để có chủ trương, biện pháp, bước đi phù hợp trong một Đề án khả thi. Nhìn chung, trong Đề án như vậy, chúng ta cần thể hiện kiên định và kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh này. “Hòa hiếu”, “hợp tác” vẫn tiếp tục, “Hậu quả của tội ác” vẫn là tội ác cần nỗ lực hợp tác để khắc phục. Cần xem cuộc đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân, việc cùng nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, trong đó có vấn đề Da cam là một kênh quan trọng để thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ phát triển đúng hướng, từng bước đem lại niềm tin cho nhân dân. Mỹ cần tăng cường hỗ trợ trực tiếp các đối tượng, đồng thời hỗ trợ thông qua phát triển kinh tế của Việt Nam, từ đó tạo điều kiện góp phần giúp đỡ các nạn nhân.
Quan hệ của hai dân tộc Việt và Mỹ rất đặc biệt - thăng trầm, đầy đau thương. Trải qua 25 năm bình thường hóa quan hệ (11/7/1995), việc hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ như ngày nay có sự đóng góp, hợp tác của nhân dân hai nước, nhưng hơn hết, người đặt nền móng cho mối quan hệ này là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Chính Người cũng là vị Chủ tịch nước lên án mạnh mẽ hành động dã man của Mỹ phun rải chất độc hóa học ở miền Nam Việt Nam và bằng cả cuộc đời của mình, Người tạo nền tảng tư tưởng, đạo đức, tinh thần và vật chất cho giải quyết hậu quả chiến tranh, trong đó có khắc phục hậu quả chất độc Da cam.
Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Bác, cùng toàn dân, toàn quân, toàn thể NNCĐDC chúng ta khắc sâu công ơn Bác, nguyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập về tầm nhìn đối ngoại nói chung và về thực tiễn quan hệ Việt-Mỹ, trong đó có đối ngoại nhân dân với Mỹ, mà Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam đang tích cực tham gia; cùng toàn Đảng, toàn dân tiếp tục đẩy mạnh công cuộc khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam./.
Trung tướng, PGS - TS Nguyễn Thế Lực