Thứ tư, 31/03/2021 | 15:17

BÀI DỰ THI: Vì sao em bị bại liệt?

Một ngày cuối năm 1972, máy bay Mỹ ồ ạt đánh phá Thủ đô Hà Nội, chúng huy động các loại máy bay hiện đại nhất, có cả pháo đài bay B52, trút hàng vạn tấn bom đạn nhằm biến thủ đô Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá. Đúng những ngày “ĐIÊN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG” ác liệt ấy, đơn vị chúng tôi được lệnh lên đường vào Nam chiến đấu.

Chúng tôi nhớ như in ngày 26 tháng 12 năm 1972, đơn vị đang làm lễ xuất quân tại sân vận động xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Toàn Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 61, Sư đoàn 305 đang hô quyết tâm lên đường đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thì hàng loạt máy bay Mỹ gầm rú, tới tấp trút bom xuống Hà Nội. Vì Hà Tây, nơi chúng tôi đóng quân là cửa ngõ của Thủ đô, không phải mục tiêu đánh phá của địch mà chỉ là nơi chúng trút bom khi không thả xuống được Hà Nội, do bị lưới lửa phòng không dày đặc của ta chống trả. Sau đợt máy bay gầm rú đánh phá, đơn vị chúng tôi mới được lệnh xuất quân. Trên đường hành quân ra ga Thường Tín, đơn vị chúng tôi cũng phải dừng lại mấy lần vì máy bay địch oanh tạc, tuy chúng không đánh trúng đội hình, nhưng đơn vị cũng có mấy đồng chí bị thương vong. Đến tối, chúng tôi lên tàu hỏa hành quân vào đến Nghệ An thì được nghỉ lại, thật vinh dự cho chúng tôi được dừng chân ở quê hương Bác Hồ một ngày đêm. Chúng tôi tưởng tượng như được gặp Bác và nghe Bác căn dặn động viên trước lúc xung trận.

Vào đến Quảng Bình, đơn vị chúng tôi phải hành quân bộ, trên vai mỗi chiến sỹ không dưới 30 kg, chưa kể súng đạn. Đêm đầu tiên mắc võng trên rừng Trường Sơn nhiều đồng đội tôi vì mang nặng, hành quân phải trèo đèo lội suối nên nằm lên võng là đã chìm sâu vào giấc ngủ. Tôi và Việt nằm cạnh nhau, hai anh em trằn trọc mãi không sao ngủ được. Việt hỏi tôi: mày có thấy mệt không? Tôi bảo: sao không! ba lô như người kéo lại khi lên dốc, hai bàn chân như có hiện tượng phồng rộp rồi mày ạ. Tôi hỏi Việt: nhà mày có gần Hồ Ba Bể không? Tao nghe nói đây là hồ tự nhiên nước trong xanh, đẹp lắm à? Rồi lại có cả Ao Tiên nữa à? Việt bảo: Hồ Ba Bể là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất thế giới đó, hồ tự nhiên, rừng nguyên sinh, có Ao Tiên, có Đảo Góa, Động Puông, thác Đồng Đẳng, lại còn cả động Hua Mạ và nhiều cảnh đẹp lắm, bao giờ đất nước hòa bình mày về nhà tao, tao dẫn đến thăm hồ tuyệt vời lắm...Tôi ước ao và thầm nghĩ tại sao trên miền núi mà lại có hồ nước to đến vậy nhỉ! Đang mơ màng tưởng tượng và ngắm ánh trăng đung đưa dưới vòm lá, bỗng một giọng hát thật ấm cất lên nghe sao da diết đến lạ thường “... cảnh về khuya như vẽ, bâng khuâng, chúng cháu thấy Bác như đã đến nơi này,... lời bài hát như một lời ru của mẹ đưa chúng tôi vào giấc ngủ giữa rừng Trường Sơn .

Hành quân,...rồi dừng chân ở binh trạm,...rồi lại tiếp tục hành quân... Hôm nay thì lần đầu trong đợt hành quân và cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được vượt dốc đứng gần 90 độ, thật khiếp sợ, chỉ cần sơ suất chút xíu thôi thì cả người, quân tư trang và vũ khí rơi xuống vực thẳm. Đó là dốc Ba Thang! Một con dốc mà bất cứ chiến sỹ nào vượt Trường Sơn đi chiến đấu đều phải đi qua. Ôi Trường Sơn thật cheo leo và hùng vĩ...

Tôi hô thật to như gào thét dưới tiếng bom đang gầm rú của kẻ thù: Việt nằm xuống, máy bay địch vẫn còn tiếp tục ném bom đó. Việt người dân tộc Tày, người thon nhỏ nhưng săn chắc, nhanh như sóc. Anh thấy máy bay thả những thùng phuy xuống rất nhiều tưởng là bom nổ chậm, vội lao lên để báo cho đồng đội phía đầu hàng quân, nhưng khi đến nơi anh chỉ thấy toàn là những thùng phuy, có những thùng đã vỡ tung văng ra những bột trắng xóa, trên đường hành quân thì thấy rất nhiều những thùng phuy đó, mà bọn giặc Mỹ đã thả dọc theo đường Trường Sơn từ nhiều năm trước, nhằm diệt chết cỏ cây để phát hiện mục tiêu của bộ đội ta. Chả trách nào dọc đường hành quân cây sừng sững như vậy mà cứ thấy chết đứng, cây cỏ đều chết khô. Dọc đường hành quân, bộ đội ta phải dùng nước ở các con suối, vì mùa khô nước cạn, thậm chí gặp chỗ nào có nước là đóng vào bi đông để uống. Vì vậy, nhiều đồng đội tôi bị sốt rét nặng, phải nằm lại ở binh trạm không thể tiếp tục hành quân cùng đơn vị được.

Rồi cũng đến lúc chúng tôi phải chia tay mỗi người được bổ sung về một đơn vị khác nhau. Tại ngã ba Đông Dương, Việt được bổ sung vào Trung đoàn 25 - Tây Nguyên mới được thành lập. Còn chúng tôi tiếp tục hành quân vào chiến trường B2. Sau ba, bốn tháng hành quân, trèo đèo lội suối, chúng tôi cũng đã tới Củ Chi bổ sung cho đơn vị E115, F2, Quân khu 7.

Những năm tháng chiến trường thật ác liệt, đói, khát, thiếu thốn đủ thứ... vậy mà tinh thần chiến đấu của bộ đội không hề nao núng. Là những chiến sỹ đặc công được tôi luyện kỹ, chiến thuật rất tỷ mỷ, kỹ càng, gian khổ, vất vả,...nay được trực tiếp chiến đấu với kẻ thù để giành lại độc lập cho dân tộc, ai ai cũng quyết tâm đem hết sức lực, trí tuệ, những kỹ chiến thuật của binh chủng đã học, vận dụng trong chiến đấu thật kiên cường, dũng cảm, chiến sỹ nào cũng lập chiến công, đơn vị nào cũng giành được nhiều thắng lợi hiển hách. Chiến dịch Mùa Xuân 1975 - tất cả những chiến sỹ quân giải phóng có mặt trên chiến trường miền Nam đều sung sướng tự hào, được tham gia trận đánh cuối cùng để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước mà anh em chúng tôi đã hằng mơ ước, phải bỏ dở đèn sách, háo hức xung phong bằng được lên đường cầm súng chiến đấu,...Chiến dịch Hồ Chí Minh đã được phát động, toàn bộ quân đội, dân quân, du kích...và toàn thể nhân dân. Toàn bộ quân trang quân dụng, lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược,...và toàn bộ hậu cần,....đều ưu tiên tập trung cho chiến dịch. Vì vậy mà quân ta tiến đánh như thế chẻ tre, giành thắng lợi thật giòn dã, chiến thắng chưa từng có trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, và cũng là tất yếu. Ngày 30/4/1975 đơn vị chúng tôi được giao nhiệm vụ đánh chiếm cầu Bình Phước và đón Đại quân vào giải phóng Sài Gòn. Tôi thật vinh dự được cùng đại quân tiến đánh vào Sài Gòn theo hướng Tây Bắc, trưa ngày 30/4 đã được đặt chân trong dinh Độc Lập, chứng kiến sào huyệt cuối cùng của Mỹ ngụy bị sụp đổ.

Hòa bình đã được lập lại, những chiến binh đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu cũng đã lần lượt trở về quê hương. Người tiếp tục đèn sách, người chuyển ngành, còn đại đa số phục viên, xuất ngũ về với mái ấm gia đình năm xưa lo làm ăn kinh tế, xây dựng quê hương.

Lần theo địa chỉ người đồng đội Việt gửi cho tôi khi chia tay tại ngã Ba Đông Dương. Mới đấy mà đã gần 40 năm rồi, chia tay nhau hẹn hòa bình lập lại đến thăm nhau, vậy mà cuộc sống khó khăn vất vả, nhiều lúc muốn chạy ra bưu điện “đánh cái dây thép” hỏi thăm bạn, nhưng làm gì có số máy, hôm nay tôi mới lên thăm đồng đội được. Con đường miền núi quả thật là cheo leo. Với chiếc xe máy cà tàng khi vượt đèo Vi Hương có đoạn không khác gì đường Trường Sơn đâu nhé, cũng quanh co, khúc khuỷu, dốc dựng đứng,...tưởng tượng lại con đường hành quân vào Nam mà thấy phát ớn! Hỏi thăm mấy lần rồi tôi cũng đã tìm được đến nhà đồng đội Việt.

Vào đến cổng nhà, điều đầu tiên tôi thấy hài lòng đó là nguồn nước, ngay trước cổng vào nhà, Việt xây một bể nước, thật ngạc nhiên là nước ở đâu cứ chảy suốt không ngừng, tràn cả xuống con mương dẫn ra cánh đồng. Tôi đang lúi húi rửa chân tay thì bỗng “bốp’ một cái làm tôi dúi dụi, quay lại đã thấy Việt, Việt ôm chầm lấy tôi nhấc ra khỏi sàn rửa. Hai anh em ôm nhau quay mấy vòng, rồi cùng sờ nắn khắp người nhau xem có bị thương tật ở đâu không, rất may chúng tôi đều không phải là thương binh. Tôi tháo chiếc ba lô trong xe theo Việt vào nhà, ôi cái nhà sàn sao cũ kỹ đến thế, nó xiêu vẹo, các cột, kèo, xà đều đã có vết mủn, mọt. Bước lên hết cầu thang, Việt đẩy hai cánh cửa ra kêu cót két, tôi xách ba lô theo sau Việt, bước vào nhà, cái sàn nhà ọp ẹp, dẫm lên nó bẹp xuống, nhấc chân lên nó lại bồng lên; thật là cám cảnh với ngôi nhà của Việt

Ngôi nhà sàn đã cũ kỹ, xiêu vẹo của gia đình anh Việt

Tôi hỏi Việt: mày xuất ngũ đã gần 20 năm rồi mà sao không làm lại cái nhà cho chắc chắn một tý, để vợ con ở cho đàng hoàng?

Việt nhấc siêu nước đang sôi sùng sục từ trên bếp giữa nhà sàn ra, vừa pha trà vừa nói: mày chưa biết hoàn cảnh của tao đâu, một vợ, 5 con, lo chạy ăn, chạy thuốc chữa bệnh cho con còn chưa xong, tiền đâu mà làm nhà.

Ai bảo mày đẻ cho lắm vào, khổ là phải; đẻ một đến hai đứa thôi, trời ơi cả tiểu đội thế này nuôi sao nổi…

Việt nói: tao có muốn thế đâu, đẻ hai đứa đầu con gái, tao quyết định thôi không đẻ nữa, nhưng ông bà nội và ngoại dứt khoát không đồng ý phải đẻ bằng được thằng đích tôn để nối dõi tông đường. Tao không chịu, mâu thuẫn nảy sinh, không khí trong nhà rất căng thẳng, tưởng năm đó tao bỏ vợ rồi chứ. Cuối cùng thì trời không chịu đất, đất phải chịu trời, đành phải chiều theo ý các cụ, thế là sòn sòn thêm ba thị tẹt nữa, ôi chao ôi ngán đến tận cổ... Nếu đứa thứ 3 và thứ 5 không bị bại liệt thì hai bên ông bà nội, ngoại còn bắt đẻ tiếp mày ạ. Tao nhìn vợ gầy dộc, thương vô cùng, trông như cây củi khô, vì phải đẻ nhiều và quan trọng là bất lực với bệnh bại liệt của hai đứa, tốn không biết cơ man nào là tiền, tiền rải suốt từ bệnh viện huyện Ba Bể, bệnh viện tỉnh Bắc Kạn, rồi bệnh viện Trung ương, chuyên khoa, đa khoa. Lên, lên, xuống, xuống biết bao nhiêu lần, hết loại thuốc này chuyển sang thuốc khác, bệnh viện bó tay trả về. Thuốc Tây không khỏi lại đi bốc thuốc Nam, cũng đi hết thầy này đến thầy khác, đến khi hết tiền, hết chỗ vay mượn, tao phải tự đi tìm thuốc về chữa cho con, quen công việc đến mức bây giờ tao đã trở thành Thầy lang rồi, nhưng mày ơi, hai đáa vẫn nằm một chỗ như đống thịt...tao đành bó tay, chấp nhận số phận.

Tôi vội quay mặt đi, gạt dòng nước mắt vì xúc động và thương người đồng đội cứ chảy ra.

Hai anh em đang hàn huyên thì Hoàng Thị Nga, vợ Việt vừa đi làm ruộng về, quần còn ống thấp, ống cao, vội vàng đi thẳng vào bếp không kịp nhìn thấy chúng tôi. Tôi vội đi đến gần để chào hỏi. Khi Nga ngẩng mặt lên tôi giật mình ngỡ ngàng đến kinh ngạc: mặt thì hốc hác, tóc đã pha sương, nhìn già hơn thằng bạn hàng chục tuổi. Việt đi kiếm thức ăn tiếp bạn, tôi ngồi đun bếp và tâm sự với Nga. Qua mấy câu xã giao thăm hỏi nhau, tôi hỏi Nga: sao em không ăn uống tẩm bổ vào cho khỏe mới làm ruộng, vườn được để nuôi các cháu chứ.

Hai người con của anh Việt bị bại liệt

Nga bảo: Anh ơi, số phận vợ chồng em vất vả quá, chẳng hiểu ông trời bắt phạt gì mà sao chúng em sinh nở, nuôi con khó khăn quá. Tôi động viên an ủi Nga, Nga nói tiếp:

Đã sinh con một bề, cố thằng con trai chẳng được lại lòi thêm ra 3 cô nữa, nó khỏe mạnh chẳng sao, đằng này 2 cháu Na và Xuân từ khi đẻ ra nó nhũn như cục thịt anh ạ, chờ 3 tháng, 6 tháng, rồi 9 tháng, chẳng thấy nó cựa quậy, không lẫy, bò gì cả. Em bảo mời thầy mo về cúng nhà em không chịu, thế là vợ chồng ôm con đôn đáo hết tất cả các bệnh viên, kể cả mấy bệnh viện nổi tiếng ở Hà Nội cũng không chữa được cho cháu. Sau đó, vợ chồng em đi chữa thuốc Nam không biết bao nhiêu thầy cũng không chữa được chứng bại liệt cho con. Nhìn con mà đau xót trong lòng, cơm chẳng muốn ăn, nhiều đêm thức trắng vì trái nắng, trở trời 2 cháu quấy suốt đêm, nói thật với anh có những lúc không có tiền để mua gạo và thức ăn, vợ chồng nhiều bữa phải nhịn giành cho con ...Nga kể đến đâu, nước mắt chảy tới đó.

Tôi sốt ruộ,t muốn thăm 2 cháu nên hỏi Nga: Vậy bây giờ các cháu đang ở đâu? Nga nói: hai chị em nó suốt ngày nằm trong buồng kia có đi đâu được, khi nào đến bữa ăn thì kêu cháu lê ra, hôm nào nó đau thì phải vào bế cháu ra ăn. Tôi đi nhẹ nhàng vào phòng thăm 2 cháu. Ôi! Thật đau xót khi nhìn thấy 2 cháu Phùng Thi Na, sinh tháng 9 năm 1982 và Phùng Thị Xuân, sinh tháng 9 năm 1988, hai cháu nằm chèo keo ở chiếc chiếu trong góc phòng, ngay cạnh đấy là một chỗ để tắm rửa và vệ sinh cho 2 cháu. Tôi đưa cho cháu gói bánh kẹo và mời các cháu ăn rồi tỷ tê hỏi chuyện. Các cháu tuy nói được nhưng không được sõi như những đứa trẻ khác. Các cháu ước mơ đi lại được, được nô đùa với bạn bè, được cắp sách đến trường học, ước mơ sau này sẽ trở thành cô giáo và bác sỹ chữa bệnh cho tất cả những em bị bại liệt như chúng. Rất nhiều câu hỏi của 2 cháu mà chính tôi cũng không biết câu trả lời. Một câu nói làm tôi sửng sốt: Bác ơi ! tại sao chúng cháu là con của bộ đội đi đánh Mỹ lại bị bại liệt không thể đi được ạ?

Một câu hỏi cứ như trăm ngàn mũi kim xiên vào tim tôi, thật đau xót cho số phận những đứa con không may bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, chúng đâu có biết là cha nó đi chiến trường miền Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin, do Quân đội Mỹ đã rải xuống đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Chất độc da cam/dioxin không những có tác hại diệt cây cỏ chết khô, mà còn nhiễm vào nguồn nước, vào cơ thể con người, vật nuôi, hủy hoại các tế bào, làm biến đổi gien trong cơ thể con người… Không chỉ có bé Na, bé Xuân, con đồng đội Việt bị ảnh hưởng chất độc da cam/dioxin, mà hàng triệu bộ đội chống Mỹ, hàng trăm nghìn con, cháu của họ hiện tại cũng bị ảnh hưởng chất độc da cam/dioxin mà Quân đội Mỹ gây ra. Có những em bé có đôi mắt nhưng không thể nhìn thấy được, có em bé có đôi tay nhưng không thể cầm nắm được cái gì, lại có những em bé có đôi chân nhưng không thể đi lại được; có những đứa bé không có tay, không có chân, người dị dạng… thật đáng thương.

Chỉ riêng tỉnh Bắc Kạn, một tỉnh miền núi nhỏ bé đã có tới 1.300 NNCĐDC là những cựu chiến binh chống Mỹ cứu nước. Những đứa con của họ sinh ra đã có 230 cháu bị ảnh hưởng chất độc da cam/dioxin từ cha. Đứa thì thiếu các bộ phận cơ thể, đứa thì bại liệt không đi lại được, như 2 cháu con đồng đội Nguyễn Duy Duyến ở phường Phùng Chí Kiên, TP Bắc Kạn không có tứ chi, trông cháu giống như một cục thịt chỉ nằm một chỗ, hay con của đồng đội Nguyễn Thùy Dương, Nguyễn Bách Chiến bị bại liệt toàn thân… Thậm chí đến đời thứ 3 là cháu nội của các đồng đội cũng vẫn còn bị ảnh hưởng chất độc da cam/dioxin, như cháu Phạm Trung Kiên, sinh năm 2015, là cháu nội của đồng đội Phạm Văn Ngọc ở thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, cháu Kiên sinh ra không có 2 chi dưới. Cháu nội của đồng đội Trần Văn Thưa, phường Sông Cầu, TP Bắc Kạn bị bệnh tật triền miên từ khi lọt lòng, chưa có một ngày khỏe mạnh.

Cuộc sống của Phùng Quốc Việt, một cựu chiến binh đặc công đã từng lăn lộn chiến trường Tây Nguyên, anh là người đảng viên cộng sản, về địa phương luôn phát huy truyền thống anh bộ đội Cụ Hồ, Việt luôn đầu tầu gương mẫu trong mọi phong trào địa phương. Mặc dù 2 vợ chồng cần cù chịu khó làm lụng, tích cóp, song hai đứa con bị bại liệt đã buộc tài sản của hai vợ chồng lần lượt đội nón ra đi. Do bệnh tật của 2 cháu Na và Xuân ngày càng trầm trọng, không phương cứu chữa. Được sự quan tâm của cơ quan chính sách Huyện đội Ba Bể, Hội NNCĐDC/dioxin huyện Ba Bể và tỉnh Bắc Kạn, đã đề nghị Nhà nước trợ cấp cho 2 cháu Na và Xuân, năm 2002 hai cháu đã được Nhà Nước trợ cấp kinh phí trang trải cuộc sống. Đến năm 2006 thì Hoàng Quốc Việt cũng được Nhà Nước trợ cấp một phần kinh phí. Tuy số trợ cấp cho 3 cha con ít ỏi nhưng cũng hỗ trợ một phần để khắc phục khó khăn, an ủi được tinh thần gia đình Việt. Mặc dù vậy, cái nghèo khổ vẫn cứ đeo đẳng gia đình anh. Căn nhà sàn siêu vẹo cũng đã đến lúc không còn khả năng gồng mình nổi nữa. Nhà sập đổ, không có nơi trú ngụ, buộc gia đình Việt phải xây lại ngôi nhà để an cư. Được sự quan tâm của Hội NNCĐDC/dioxin tỉnh Bắc Kạn, huyện Ba Bể. Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể xã Địa Linh đã ủng hộ 70 triệu đồng, trong đó cá nhân ông Bùi Quang Vinh ở TP Bắc Kạn ủng hộ 10 triệu đồng. Gia đình đồng đội Việt gom góp bán hết số tài sản có giá trị, cùng với sự giúp đỡ của họ hàng, con cháu, gia đình đồng đội Việt đã xây được ngôi nhà khang trang để ở.

Được sự chỉ đạo của Đảng, chính quyền và các đoàn thể trong tỉnh, Hội NNCĐDC/dioxin tỉnh Bắc Kạn rất tích cực vận động các tổ chức, các mạnh thường quân ủng hộ cho các NNCĐDC trong tỉnh, đến nay đã vận động được hơn 4 tỷ 673 triệu đồng. Đã hỗ trợ xây dựng được 22 ngôi nhà với giá trị 841 triệu đồng cho những NNCĐDC gặp nhiều khó khăn. Cấp học bổng cho 5 cháu bị ảnh hưởng chất độc hóa học từ cha, với trị giá 90 triệu đồng trong 3 năm, cấp 25 xe lăn trị giá 55 triệu đồng cho 25 cháu bị bại liệt. Thăm hỏi tặng quà cho các NNCĐDC hơn 4.545 lượt hội viên, với hơn 1 tỷ 300 triệu đồng. Tổ chức cho 30 nạn nhân đi thăm chiến trường xưa với số tiền 255 triệu đồng. Điều đáng trân trọng là Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam đã xây dựng một Trung tâm Bảo trợ xã hội, có chương trình xông hơi, giải độc cho các NNCĐDC. Hội NNCĐDC/dioxin Bắc Kạn đã vận động các tổ chức và cá nhân được 1 tỷ 786 triệu đồng cho 337 lượt nạn nhân đi xông hơi tẩy độc mỗi đợt là 21 ngày, có tác dụng rõ rệt.

Vợ chồng anh Việt với 2 người con bị bại liệt

Cũng đã lâu, hôm nay tôi mới lên thăm lại đồng đội Việt, kể từ ngày Việt khánh thành ngôi nhà xây vào năm 2017. Điều làm tôi phấn khởi là gia đình Việt đã có ngôi nhà khang trang, 2 bé Na và Xuân sức khỏe đã khá hơn nhiều, các cháu di chuyển dễ dàng hơn và nói chuyện nhiều hơn. Cháu Na bảo: Bác ơi, mấy năm nay chúng cháu đã được ở ngôi nhà khang trang đẹp đẽ, chúng cháu cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ gia đình cháu có được ngôi nhà xây chắc chắn. Cảm ơn Đảng, Nhà Nước đã trợ cấp cho 3 bố con cháu và bố cháu còn được đi tẩy độc nữa. Như chúng cháu được biết các bác đi chiến đấu ở miền Nam ngày xưa rất nhiều người bị nhiễm chất độc hóa học, không những thế còn để lại di chứng cho thế hệ con, cháu cũng bị ảnh hưởng. Cháu khẩn thiết nhờ các Bác đề nghị lên Nhà nước mình đòi Mỹ phải bồi thường cho tất cả những thế hệ người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc hóa học để họ phần nào nguôi ngoai những nỗi đau âm ỉ tàn phá cơ thể họ.

Các bác hứa sẽ cùng cả nước đấu tranh đòi công lý cho NNCĐDC, công lý nhất định sẽ chiến thắng. Các bác cũng rất hy vọng rằng sẽ không để xảy ra chiến tranh và không bao giờ có cảnh: “… sau chiến tranh bao người không về, có người trở về với vết thương đau tận đời sau…”./.

Nguyễn Quang Vinh

Thủ tướng trình Quốc hội cơ cấu Chính phủ mới gồm 27 thành viên

Chiều 26/7, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình Quốc hội xem xét, quyết định cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV có 27 thành viên, gồm: Thủ tướng Chính phủ; 4 Phó Thủ tướng Chính phủ; 18 Bộ trưởng các bộ; 4 Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Hội nghị Ban Thường vụ Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam lần thứ 5, khóa IV, nhiệm kỳ 2018 - 2023

Sáng 13/7, Ban Thường vụ Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam nhiệm kỳ 2018 – 2023 đã tổ chức Hội nghị lần thứ 5, khóa IV. Tham dự Hội nghị có Chủ tịch Nguyễn Văn Rinh, các đồng chí Phó Chủ tịch Hội; các ủy viên thường trực công tác tại Trung ương Hội và các tỉnh phía Bắc. Do tình hình dịch bệnh Covid- 19 diễn biến phức tạp nên các Ủy viên Thường vụ tại các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng trở vào tham dự Hội nghị theo hình thức trực tuyến.