Thứ sáu, 26/03/2021 | 15:42

BÀI DỰ THI: Chất độc da cam – những nỗi đau đi cùng năm tháng

Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, cả dân tộc Việt Nam đang hiên ngang bước vào nhịp bước của thời đại mới "thời đại hòa bình và thịnh vượng" với tâm thế phấn khởi và cơ đồ vững chắc chưa từng có trong lịch sử. Tuy nhiên, đã gần 50 năm trôi qua, những hậu quả của cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại vẫn còn đâu đó khắc khoải trong tiềm thức mỗi con người Việt Nam – Một trong những nỗi đau đó mang tên "chất độc da cam"

Chất độc da cam, nỗi đau với những thân phận tật nguyền

Ngược dòng lịch sử trong những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX, kết quả nghiên cứu hoá học nông nghiệp đã cho thấy rất nhiều hóa chất tổng hợp có thể điều chỉnh hoặc hạn chế cây cỏ phát triển. Các chất này có nhiều hứa hẹn giúp nông dân diệt cỏ rất hiệu nghiệm, nhưng nhiều người cũng đánh giá cao tiềm năng sử dụng trong quân sự. Chất diệt cỏ có hiệu lực nhất được biết đến là 2,4 - dichlorophenoxy axetíc acid (2,4-D)/Peter Schuck, 1986, Agent Orange on trial/. Mỹ đã nghiên cứu sử dụng chất diệt cỏ vào mục đích quân sự từ thập kỷ 40 của thế kỷ XX. Cuối chiến tranh thế giới lần thứ II, Không quân Mỹ đã có kế hoạch sử dụng một số chất diệt cỏ để huỷ diệt những cánh đồng lúa rộng lớn vùng ngoại ô 6 thành phố lớn Nhật Bản: Tokyo, Iocohama, Nagôia, Oxaca, Kyoto và Kobe. Song, chưa kịp sử dụng thì chiến tranh đã kết thúc.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ không chỉ dùng các loại bom đạn gây thương vong mà còn sử dụng cả chất độc da cam/dioxin, nhằm triệt hạ nguồn sinh sống của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn bước tiến của các lực lượng vũ trang cách mạng. Chất độc da cam (tiếng Anh: Agent Orange - Tác nhân da cam), là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được Quân đội Mỹ sử dụng tại Việt Nam trong Chiến dịch Ranch Hand, một phần của chiến tranh hóa học của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Chất này không có màu và được chứa trong các thùng đánh dấu màu da cam (do vậy trong vụ kiện hậu quả của nó được gọi nhầm là chất độc màu da cam).

Theo thông kê, chỉ trong 10 năm (từ năm 1961 đến năm 1971) Quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải 80 triệu lít chất độc hóa học, 61% trong đó là chất da cam, chứa 366 kg dioxin xuống 26.000 thôn, bản, với diện tích 3,06 triệu ha, bằng gần 1/4 tổng diện tích miền Nam Việt Nam. Việc sử dụng chất da cam/dioxin ở chiến trường trong suốt 10 năm đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, không chỉ huỷ hoại môi trường, các hệ sinh thái mà còn tác hại đến sức khỏe con người Việt Nam. Đã có gần 4 triệu người bị phơi nhiễm chất độc dioxin, trong đó gần 3 triệu người Việt Nam là nạn nhân. Thảm hoạ da cam với biết bao thảm cảnh không sao kể xiết. Hàng trăm nghìn nạn nhân đã chết, hàng trăm nghìn người đang vật lộn với bệnh tật hiểm nghèo. Chất độc da cam/dioxin có thể gây tổn thương đa dạng của cơ thể, gây ung thư, đái tháo đường, thần kinh bại liệt... Tác động quan trọng trong gây đột biến gen các thế hệ con, cháu của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, nó đã làm cho nhiều cặp vợ chồng vô sinh, có hàng mấy trăm ngàn cặp vợ chồng sinh từ 2 đến 5 người con đều bị tật nguyền, hoặc chết dần, chết mòn. Đặc biệt là chất độc da cam di truyền qua nhiều thế hệ ở Việt Nam, di chứng da cam đã truyền sang thế hệ thứ 4.

Theo Hội NNCĐDC/dioxin Việt Nam, nhiều chị em phụ nữ đi qua chiến tranh đã không được hưởng hạnh phúc làm vợ, làm mẹ, vì họ bị vô sinh, di chứng từ chất độc da cam/dioxin. Thảm họa da cam đã cướp mất sự bình yên của hàng triệu gia đình người Việt Nam. Có nhiều gia đình mà tất cả các con đều là nạn nhân. Gia đình ông bà Đỗ Đức Địu, Phạm Thị Nức (thôn Hà Thiệp, xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình), sinh 15 người con đều bị nhiễm chất độc da cam, 12 con đã chết và ông dành một khu đất sau nhà để làm nghĩa trang chôn con; những ngôi mộ được đánh dấu thứ tự từ số 1 cho đến số 12... Rất nhiều gia đình hiện có 2 đến 4 người là NNCĐDC, thậm chí có gia đình cả ba thế hệ NNCĐDC, cuộc sống đầy cay đắng, tủi hờn, kinh tế kiệt quệ. Qua các cuộc khảo sát về NNCĐDC ở một số địa phương cho thấy, tại Việt Nam, chất độc da cam đã di truyền sang thế hệ thứ tư (chắt), như: Hà Nam có 88; Nghệ An có 21; Gia Lai có 66; Cà Mau 36… là chắt của nạn nhân trực tiếp bị di chứng CĐDC/dioxin.

Ở nước ta, hàng trăm ngàn NNCĐDC đã chết; những người còn sống đang hằng ngày, hằng giờ vật lộn với những căn bệnh quái ác bởi dioxin mà hình như y học bất lực. Họ sống trong đau khổ tột cùng cả về thể xác lẫn tinh thần, chết dần chết mòn và chết tức tưởi. Dioxin gây nên chứng vô sinh ở nam giới, làm cho nhiều gia đình, dòng họ có nguy cơ mất nòi giống. Dioxin gây biến đổi gen, làm cho thai nhi chết yểu hoặc phát triển không bình thường. Bao bà mẹ chín tháng mang nặng đẻ đau, nhưng đau khổ suốt đời vì sinh ra những “giọt máu” không lành, những đứa con tật nguyền vô phương cứu chữa. Đó là những đứa trẻ thiếu hoặc thừa các bộ phận cơ thể, hoặc đủ, nhưng bị biến dạng, mất khả năng hoạt động: tai không thể nghe, mắt không thể nhìn, miệng không thể nói, chân không thể nâng bước, tay không thể ôm ấp, não không thể tư duy… Đó là những đứa trẻ câm, điếc, tâm thần, bại liệt, nhũn não, sống đời sống thực vật. Bao bà mẹ nuôi con mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm và lâu hơn thế, nhưng chưa một lần con biết nhìn mẹ, chưa một lần con cười, chưa một lần con cất tiếng gọi mẹ ơi! Thảm họa da cam đã cướp mất sự bình yên của hàng triệu gia đình người Việt, họ không có niềm vui, họ chẳng còn hy vọng, họ quên cả những nụ cười thường nhật, họ mất cả những háo hức khi cánh én báo mùa xuân về…

Tháng 4/2012, Hội thảo Khoa học quốc tế tổ chức tại Đại học Yale (Mỹ) quy tụ nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới, đánh giá những công trình nghiên cứu khoa học mới nhất về chiến tranh hóa học, đã kết luận: Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất, độc ác và tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại ở miền Nam Việt Nam. Trong lời kêu gọi của Hội nghị quốc tế NNCĐDC/dioxin lần thứ II, tổ chức tại Hà Nội (8-9/8/2011), khẳng định: Việc sử dụng chất da cam trong chiến tranh ở Việt Nam là một tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại. Hậu quả của hành động đó có thể tồn tại qua nhiều thế hệ.

Tác hại đến môi trường – Những con số biết nói

Ngoài con người, chất độc da cam còn để lại thảm họa đối với môi trường; với một lượng khổng lồ chất độc hóa học phun rải, lặp đi, lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài khiến môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn bị chất độc hóa học hủy diệt trở nên hoang vắng, buồn tẻ, chết chóc: không một cánh chim, không một cành lá, không cả tiếng côn trùng. Rừng bị hủy diệt đã tác động lên 28 lưu vực sông miền Trung Việt Nam. Có 16 lưu vực, trong đó rừng bị phá hủy chiếm 30% diện tích tự nhiên; 10 lưu vực mất 30- 50% diện tích và 2 lưu vực mất hơn 50% diện tích. Phần lớn các con sông này ngắn, chảy qua những địa hình phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp đến vùng hạ lưu. Rừng phòng hộ đầu nguồn của 28 hệ sông bị tàn phá, làm cho lũ lụt, hạn hán nặng nề trên lưu vực các sông: Hương, Thạch Hãn, Hàn, Thu Bồn, Trà Khúc, Vệ, Cầu, Ba… Bởi vì có rừng, 95% nước mưa trở thành nước ngầm; không có rừng, 95% nước mưa chảy tràn trên mặt đất, gây xói mòn, lũ lụt. Năm 1995, Ngân hàng Thế giới (WBG) nhận xét: Sự tàn phá môi trường của cuộc chiến tranh lần thứ hai ở Đông Dương (1961 -1975) thật nghiêm trọng.

Thảm họa về môi trường và những mảnh đời bất hạnh đó vẫn đang hiện hữu trên đất nước Việt Nam thân yêu. Nhìn thẳng vào sự thật, nêu rõ sự thật đó không phải để chúng ta kích động hận thù dân tộc, mà để chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm cho tương lai của nhân loại. Nỗi đau thế kỷ này chẳng thể cho phép sự vô cảm. Khắc phục hậu quả thảm họa chất độc da cam ở Việt Nam là lương tâm và trách nhiệm của nhân loại./.

Đoàn Văn Huynh