Chủ nhật, 14/03/2021 | 20:10

BÀI DỰ THI: Nỗi ám ảnh không thể xóa nhòa

Chất độc da cam (tên tiếng Anh: Agent Orange) là một loại chất diệt cỏ được Quân đội Mỹ sử dụng tại Việt Nam từ năm 1961 - 1971. Cái tên chất độc màu da cam xuất phát từ việc có một sọc màu da cam để đánh dấu trên các loại thùng chứa để phân biệt với các chất diệt cỏ khác. Mỹ đã từng sử dụng 15 loại thuốc diệt cỏ khác nhau tại Đông Nam Á, bao gồm các loại chất độc da cam, xanh, trắng, hồng và tím, tất cả đều là hỗn hợp của các loại thuốc diệt cỏ khác nhau. Trong đó, chất độc da cam là hỗn hợp hai loại thuốc diệt cỏ 2-4-D và 2-4-5-T. Chất độc da cam được phát hiện trong một nghiên cứu của tiến sĩ thực vật học Arthur W.Galston. Tuy nhiên, ông không có chủ định tạo ra một loại chất độc hóa học mà chỉ muốn sử dụng nó như một phần trong nghiên cứu của mình. Sau đó, nó được Quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam.

Theo số liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, Quân đội Mỹ đã phun rải xuống miền Nam Việt Nam khoảng 80 triệu lít hóa chất khai quang - diệt cỏ khác nhau, trong đó có hơn 43 triệu lít chất độc da cam/dioxin. Đây được xem là cuộc chiến tranh hóa học có quy mô lớn nhất, gây hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử loài người do Quân đội Mỹ tiến hành tại Việt Nam. Chất độc da cam có chứa dioxin, một loại độc tố kinh khủng nhất mà con người biết đến.

Hơn 45 năm trôi qua, kể từ ngày chiến tranh kết thúc, nhưng những nỗi đau mà hậu quả của chất độc da cam để lại đối với người dân Việt Nam đang phải gánh chịu, chưa biết đến khi nào mới có thể nguôi ngoai. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, số nạn nhân trên cả nước là rất lớn: 93% xã/phường của 63 tỉnh/thành phố trong cả nước đều có người bị ảnh hưởng chất độc da cam, 1,2% số hộ gia đình trong cả nước có người bị của chất độc da cam. Những hậu quả mà dioxin do Mỹ sử dụng ở Việt Nam có thể tổng hợp lại thành ba vấn đề lớn sau:

Một là, hủy hoại môi trường

Chỉ trong vòng 10 năm (1961 - 1971), Quân đội Mỹ đã phun rải hóa chất lên khoảng 25% diện tích miền Nam Việt Nam, trong đó, 86% diện tích bị phun rải trên 2 lần, 11% diện tích bị phun rải trên 10 lần, 86% lượng chất độc hóa học rải xuống rừng núi, đầu nguồn 28 con sông và 14% rải xuống đồng ruộng. Hầu hết các hệ sinh thái rừng của Nam Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ bị tàn phá; hơn 3 triệu ha rừng nguyên sinh bị hủy hoại. Chất độc da cam có chứa dioxin, khó phân huỷ, nó tồn tại lâu trong môi trường, làm cho đất, nước bị nhiễm độc nặng, cây rừng, động vật bị huỷ diệt. Nhiều khu rừng bị nhiễm chất độc quá nặng, cho đến nay, cây cối không thể mọc lại. Suốt một thời kì dài, miền Nam bị ô nhiễm nặng nề, cả môi trường đất, nước và không khí. Hệ sinh thái bị đảo lộn, một số loài động, thực vật quý hiếm bị tuyệt chủng; cây cối không phát triển hoặc bị chết làm cho khí hậu vùng cũng bị thay đổi vì độ ẩm giảm, cường độ chiếu sáng tăng, đất bị xói mòn, thoái hóa.

Những điểm nóng nhất về dioxin tại Việt Nam như khu vực sân bay Biên Hòa, sân bay Đà Nẵng và sân bay Phù Cát, nơi trước đây Quân đội Mỹ tập kết chất độc hóa học trước khi mang đi phun rải, đến nay vẫn là những “vùng đất chết”. Các tổ chức trong nước và quốc tế đánh giá, ở khu vực sân bay Đà Nẵng có khoảng gần 90.000m3 đất và trầm tích nhiễm dioxin cần phải xử lý; ngoài ra còn có 50.000m3 đất và bùn cần phải cô lập do lượng dioxin bị nhiễm cao gấp 365 lần so với ngưỡng mà Tổ chức Y tế Thế giới xác định là an toàn. Khu vực sân bay Phù Cát cũng có hơn 10.000m3 bùn đất nhiễm dioxin cần xử lý. Tại sân bay Biên Hòa, theo hồ sơ lưu trữ (Bộ Quốc phòng Mỹ), Quân đội Mỹ đã chuyển đến, lưu giữ tại sân bay Biên Hòa hơn 98.000 thùng phy loại 205 lít chứa chất da cam. Khối lượng đất bị nhiễm dioxin ở đây lên tới gần 500.000m3 - đây là điểm nóng nhất về dioxin tại Việt Nam hiện nay với nồng độ cao, tính chất phức tạp.

Hai là, hậu quả đối với những người trực tiếp tham chiến

Theo Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, có hơn 4,8 triệu người Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam. Tỉnh Quảng Trị và Bạc Liêu là 2 trong số những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi chất độc da cam. Theo số liệu thống kê gần đây nhất của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, ở miền Bắc tỉnh Nghệ An có 30.000 nạn nhân, 55 gia đình có từ 4 nạn nhân trở lên; ở miền Nam là tỉnh Sóc Trăng có 14.147 nạn nhân, 49 gia đình có 3 nạn nhân, 16 gia đình có từ 4 nạn nhân trở lên; riêng tỉnh Quảng Trị là địa phương có số hộ gia đình có từ 4 nạn nhân trở lên nhiều nhất, 478 hộ. Đặc biệt, có nhiều gia đình bị ảnh hưởng đến cả 3 thế hệ.

Chất độc da cam, loại chất độc được tạp chí Time của Mỹ liệt vào danh sách 50 phát minh tồi tệ nhất của loài người, tổ chức Ung thư Quốc tế - IARC cũng xếp dioxin vào nhóm độc loại 1, tức là nhóm gây ung thư dẫn đến tử vong đối với người. Tổ chức Y tế thế giới đã phân loại dioxin là một chất gây ung thư ở người, có thể phá hỏng các hệ nội tiết, miễn dịch và thần kinh trong cơ thể, gây nên nhiều bệnh tật nguy hiểm như ung thư, thần kinh, u não, dị tật bẩm sinh, các bệnh do rối loạn chuyển hóa, các bệnh do rối loạn sinh sản ở nữ giới như thai chết lưu, đẻ non, sảy thai,…

Đối với các nạn nhân chất độc da cam, bản thân họ ngoài chịu những nỗi đau về thể xác bởi những mảnh bom, đạn còn trong cơ thể, họ còn mang trong mình những nỗi đau tinh thần, nhẹ thì mất ngủ, căng thẳng, nặng thì bị tổn thương tâm lý trong suốt những năm sau chiến tranh, mất trí nhớ. Những nạn nhân chất độc da cam bị dị tật, mắc các bệnh hiểm nghèo hoặc không có khả năng tự chăm sóc bản thân, không có việc làm, họ luôn phải cần có người chăm sóc, giúp đỡ trong các hoạt động hàng ngày. Đây là nỗi đau vô cùng lớn cho những người dân trên đất nước hình chữ S này.

Ba là, nỗi đau với những thế hệ sau

Cuộc sống của những gia đình có nạn nhân chất độc da cam vô cùng khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần, nhưng đau khổ chồng chất đau khổ, điều mà họ không mong muốn và tuyệt vọng nhất là ngay cả những đứa con, đứa cháu của mình cũng bị ảnh hưởng bởi loại chất độc này. Nhiều gia đình phải hàng giờ, hàng ngày đối mặt với những đứa con không được như bao người bình thường khác, những ước mơ giản dị về người con nối nghiệp khoẻ mạnh, bình thường như bao đứa trẻ khác đã không thể trở thành hiện thực, điều mà những cựu chiến binh, người đã hy sinh cả tuổi xuân cho Tổ quốc xứng đáng được hưởng.

Đối với tôi, những hình ảnh trẻ em, thanh thiếu niên dị tật, bị mù, câm, điếc, tâm thần, thiểu năng trí tuệ hoặc có hình hài dị dạng, dị tật sứt môi hở hàm ếch, liệt hoàn toàn hay một phần cơ thể,...trong các gia đình cựu chiến binh thực sự làm cho tôi không cầm được nước mắt, đây là nỗi đau không thể hàn gắn. Nạn nhân chất độc da cam là những người nghèo nhất trong những người nghèo, đau khổ nhất trong những người đau khổ. Họ mất đi quyền được hưởng thụ cuộc sống của riêng mình mà đáng lẽ họ được hưởng trọn vẹn.

Do vậy, chúng ta cần chung tay xoa dịu nỗi đau da cam

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều chính sách, biện pháp thiết thực, có hiệu quả trong việc khắc phục, xử lý hậu quả tồn lưu của chất độc hóa học sau chiến tranh. Cụ thể, ban hành các chế độ, chính sách dành cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin, qua đó đã huy động nhiều nguồn để triển khai các dự án hỗ trợ nạn nhân về sản xuất, y tế, giáo dục, phục hồi chức năng. Có nhiều gia đình nạn nhân chất độc da cam được hưởng bảo hiểm y tế hoặc khám chữa bệnh miễn phí, được tham gia phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng, khử độc dioxin…có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đóng góp các nguồn quỹ để đầu tư xây dựng trung tâm dạy nghề cho nạn nhân chất độc da cam, thăm hỏi, tặng quà, nhằm cải thiện đời sống và sức khỏe của nhiều nạn nhân da cam/dioxin.

Chiến tranh đã lùi xa, những nỗi đau da cam vẫn còn đó. Nhưng với sự nỗ lực, chung tay của Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội cùng các tổ chức quốc tế, hậu quả của chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam đang được từng bước xử lý, hướng tới mục tiêu mang lại môi trường an toàn, đảm bảo sức khỏe cho người dân cũng như làm vơi bớt nỗi khó khăn, vất vả cho các gia đình và nạn nhân chất độc da cam Việt Nam để họ có thể vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống./.

Lê Văn Tùng