Yếu tố “lòng dân” trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Ngay từ thuở khai sinh, các vua Hùng đã biết đoàn kết, tạo sức mạnh cho đất nước Văn Lang để chiến thắng giặc ngoại xâm và cải tạo, chống chọi với thiên tai. Tiếp đó, các triều đại phong kiến Việt Nam đều phát huy, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết, gắn bó với nhân dân; thường xuyên chăm lo đời sống “trăm họ”, chỉnh đốn luật pháp để yên “lòng dân”. Trước nạn xâm lược từ phương Bắc, triều nhà Trần đã tập hợp, thống nhất được sức mạnh và ý chí của toàn dân; lắng nghe “lòng dân” bằng việc mở Hội nghị Diên Hồng (năm 1284) để bàn mưu, tính kế đánh giặc Nguyên - Mông. Sau chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi đã tổng kết: vận nước thịnh hay suy, mất hay còn là do sức mạnh của dân quyết định. Dân như nước, nước có thể đẩy thuyền, cũng có thể lật thuyền “Người đẩy thuyền cũng là dân, người lật thuyền cũng là dân”. Trong Bình ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã tuyên ngôn: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”...

Đặc biệt, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời thì khối đại đoàn kết toàn dân đã phát triển lên một tầm cao, trên cơ sở thống nhất cao độ giữa ý Đảng - lòng dân. Đó là sự thống nhất giữa đường lối, mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, với nguyện vọng, mong muốn của đại đa số nhân dân là xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Như vậy, lợi ích của Đảng luôn hòa quyện với lợi ích của các tầng lớp nhân dân, lợi ích của quốc gia, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”[1].

Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đoàn kết đã trở thành một giá trị văn hóa truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta; trong đó “lòng dân” là yếu tố được các triều đại đặc biệt quan tâm, chăm lo. Vì thế, mỗi khi đất nước bị xâm lăng thì cả dân tộc triệu người như một “kết thành làn sóng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[2], như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Ý Đảng - lòng dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, tư tưởng, hành động của Người có ảnh hưởng to lớn, sâu sắc đến đường lối lãnh đạo của Đảng cũng như việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, để đánh bại đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, Đảng phải tập hợp được mọi lực lượng của dân tộc, ý Đảng - lòng dân phải hòa quyện, thống nhất với nhau. Người yêu cầu các cấp phải cụ thể hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết bằng những ngôn từ thực tế, dễ hiểu, dễ nhớ để quần chúng nhân dân biết và tự giác lựa chọn, đi theo.

Bác Hồ thăm nông dân đang gặt lúa trên cánh đồng xã Hùng Sơn,

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh tư liệu)

Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là triết lý chính trị của mọi nhà nước, mọi giai đoạn lịch sử, nhưng trong thời đại Hồ Chí Minh nó đã phát triển lên một tầm cao mới. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của cách mạng, là người trực tiếp chịu tác động của mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên việc xây dựng đường lối, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Người nhiều lần nhắc nhở: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, người lãnh đạo phải biết tôn trọng, lắng nghe ý kiến và giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của quần chúng nhân dân, thấu hiểu lòng dân, nguyện vọng của dân, thực sự trọng dân, vì: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[3]. Vì thế, mặc dù công việc bận rộn nhưng Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên dành thời gian để đi cơ sở nắm tình hình, hòa mình vào cuộc sống của quần chúng nhân dân, từ ruộng đồng, mỏ than, nhà máy, xí nghiệp đến nông trường, đơn vị bộ đội... Điều đó giải thích vì sao các phát biểu chỉ đạo của Hồ Chí Minh luôn mang đậm tính thực tiễn, tính nhân văn, đồng cam cộng khổ với khó khăn, vất vả của người lao động. Người nói: làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả. Mặt khác, muốn cho ý Đảng - lòng dân luôn hòa quyện, thống nhất thì phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ. Người nói: lâu nay, nhiều nơi cứ nói là thực hiện dân chủ, nhưng thực chất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị ở đó vẫn mượn danh hoặc nhân danh tập thể để hợp thức hóa những quyết định, ý chí chủ quan của cá nhân mình. Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng phương thức “nêu gương” của cán bộ, đảng viên; Người yêu cầu trong mọi việc “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” và căn dặn: tổ chức đảng phải lấy gương người tốt, việc tốt để giáo dục, đó là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới “... Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[4].

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cảnh báo về sự nguy hại của nạn tham nhũng làm sói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” viết vào đầu năm 1969, đăng trên Báo Nhân dân, nhân dịp Kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (3/2/1969) Bác đã nhấn mạnh: còn một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình… Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết. Phải kiên quyết quét sách chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải sâu sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân... Đến nay, bài viết của Bác vẫn còn nguyên giá trị.

Có thể nói, ý Đảng - lòng dân trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa lý luận của học thuyết Mác-Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” với truyền thống, đạo lý của dân tộc; luôn mang đậm tinh thần nhân văn, tính thực tiễn, thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa đường lối của Đảng và nguyện vọng của nhân dân. Nhờ đó, Đảng luôn nhận được sự đồng tình, ủng hộ một cách tự nguyện của đại đa số nhân dân lao động; phát huy được sức mạnh to lớn của toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trần Đình – Anh Tuấn

[1] - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, Tập 10, trang 2

[2] - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, Tập 6, tr. 171

[3] - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2022, Tập 8, Tr. 276

[4] - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nxb CTQG, H.2011, Tập 1, tr.284

(Tiếp theo: Ý Đảng - lòng dân, nhân tố then chốt để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc)