TÓM TẮT

Cộng đồng khoa học thế giới đã chứng minh CĐDC và Dioxin chứa trong nó gây ra nhiều bệnh tật kéo dài cho nạn nhân bị phơi nhiễm, gây tổn thương, khuyết tật cho nạn nhân thế hệ thứ 2, thứ 3,… Nhiều đứa trẻ vô tội do các bà mẹ có phơi nhiễm sinh ra, cho bú và rồi lớn lên với nhiều khuyết tật, truyền đến thế hệ thứ 3, thứ 4, và không biết đến khi nào mới chấm dứt.

Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng chung sức với Nhà nước Việt Nam chăm sóc về tinh thần cũng như vật chất của các gia đình nạn nhân, nhưng vẫn chưa đáp ứng được hoàn toàn các nhu cầu của họ. Nhân kỷ niệm 60 năm (1961 – 2021) thảm họa da cam, Hội đã đã thực hiện một cuộc điều tra sức khỏe cơ bản của nạn nhân, có quan tâm đến tỷ lệ bệnh gút là một bệnh gần đây đã được các nhà nghiên cứu châu Âu chứng minh rằng có liên quan đến việc phơi nhiễm với CĐDC và dioxin.

Nghiên cứu được thức hiện trên toàn bộ nạn nhân đang sống tại TP Hồ Chí Minh (1 quận trung tâm thành phố, 1 huyện vùng ven và 1 huyện ngoại thành), 2 tỉnh miền Đông Nam Bộ (Đồng Nai và Tây Ninh), 2 tỉnh miền Tây Nam Bộ (Bến Tre và Bạc Liêu) và 1 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai), mỗi nơi chọn các xã hoặc phường đại diện cho các vùng miền của địa phương, nhằm xem xét tình hình sức khỏe tổng quát, có chú ý riêng về bệnh gút (vì đây là một trong những nguyên nhân gây biến dạng tay chân, gây đau đớn nhiều cho bệnh nhân, nhưng nếu phát hiện và điều trị sớm sẽ giúp nạn nhân tránh được các ảnh hưởng gây giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân).

Kết quả

Có 78,7% trên 50 tuổi (đa số phơi nhiễm trực tiếp) và 21,3% dưới 50 tuổi (hầu hết phơi nhiễm gián tiếp). Tỷ lệ béo phì rất hiếm. Có 23,7% có 1 -> 3 con bị khuyết tật và 5,7% có cháu bị khuyết tật. Tỷ lệ đã mắc ung thư là 14,9%, hầu hết ở nhóm nạn nhân trên 50 tuổi. Ung thư tiền liệt tuyến 4,3% so với số liệu của bệnh viện K Hà Nội năm 2000 là 2,7/100.000 dân. Do tuổi già và do ảnh hưởng các CĐHH, nhất là CĐDC/dioxin, nạn nhân có tỷ lệ đái tháo đường (55,3% > 50 tuổi và 7,9% < 50 tuổi so với khoảng 14% dân số bình thường ở Việt Nam), cao huyết áp, bệnh tim, thiếu máu, và bệnh gút (22,1% > 50 tuổi và 7,7% < 50 tuổi, so với khoảng 1% dân số bình thường ở Việt Nam).

Chúng tôi tập hợp danh sách bệnh nhân bệnh gút để đưa về TP Hồ Chí Minh điều trị ở Viện Gút nhưng do các đợt dịch xảy ra quá nặng nề tại Thành phố nên chưa thực hiện được mà bệnh nhân vẫn tạm thời điều trị tại địa phương.

Kết luận:

Qua điều tra cơ bản đã thực hiện thì thấy là sức khỏe của hầu hết nạn nhân kém hơn so với dân số bình thường của Việt Nam. Tuy nhiên, đây chỉ mới thực hiện trên một phần phía Nam của đất nước Việt Nam chúng ta. Hội đề nghị Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng cùng Văn phòng 701 hỗ trợ nghiên cứu toàn diện hơn để có số liệu đầy đủ và chính xác. Từ đó, chúng ta có thể hỗ trợ nạn nhân một cách thiết thực hơn, giảm những nỗi đau tinh thần và thể chất của họ. Nhờ vậy, chúng ta có thể giúp nạn nhân cũng như các thế hệ con cháu của họ, cũng là nạn nhân chất độc da cam, nâng cao chất lượng cuộc sống của những người đã từng đóng góp, hi sinh cho sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Hoa Kỳ đã rải khoảng 80 triệu lít thuốc diệt cỏ xuống miền Nam Việt Nam thông qua "Chiến dịch Ranch Hand”. Các loại chất độc gọi là “diệt cỏ và làm trụi lá” là những chất hồng, chất xanh, chất trắng, chất tím, và nhiều nhất là chất da cam.

Chất độc da cam, hỗn hợp 50:50 của 2,4-D và 2,4,5-T, là loại thuốc diệt cỏ đã được sử dụng nhiều nhất.

Trong khi tổng hợp chất 2,4,5-T ở nhiệt độ và áp lực cao, các công ty hóa chất đã biết có sự xuất hiện của chất dioxin là hóa chất độc hại nhất đối với muôn loài, và nhất là con người.

Tuy nhiên, do lòng tham lợi nhuận, với áp lực phải sản xuất nhanh để cung cấp thật nhiều cho quân đội Hoa kỳ, họ đã không can thiệp gì để giảm bớt độc lực!

Chất DIOXIN, công thức hóa học là 2,3,7,8 tetra-chloro-dibenzo-para-dioxin

– gọi tắt là 2,3,7,8 TCDD

Chất độc da cam (CĐDC)/dioxin làm tăng số lượng và tỷ lệ trẻ bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam và một số bệnh lý khác về sức khỏe ở cả người lớn và trẻ em có phơi nhiễm như ung thư, bệnh tim mạch, đái tháo đường… cho con người Việt Nam, cũng như cho binh sĩ Hoa kỳ và binh sĩ các nước có gửi người tham chiến tại Việt nam trong thời gian có chiến tranh.

Năm1998, Tổ chức Y tế thế giới đã xem và điều chỉnh lại lượng dioxin tối đa có thể dung nạp mỗi ngày vào cơ thể mà không gây hại: từ 10 pg/kg cơ thể/ngày giảm xuống chỉ còn 1–4 pg/kg cơ thể/ngày. Sự điều chỉnh này dựa trên các nghiên cứu về bệnh lý lạc nội mạc tử cung ở loài khỉ Rhesus (rất giống với cấu tạo cơ thể về giải phẫu và sinh lý, sinh lý bệnh) khảo sát sự phát triển của bệnh vào thời điểm chu sinh nếu người mẹ đã có phơi nhiễm với dioxin. Điều nầy chứng tỏ rằng, cơ thể các loài động vật rất nhạy cảm với dioxin.

Trong sữa mẹ ở vùng đã có rãi các chất độc hóa học, nhất là chất da cam, trong chiến tranh, có chứa Dioxin trung bình khoảng 1.450 pg/mL (1). Một bé sơ sinh, vừa mở mắt chào đời, cân nặng trung bình 3.000g, mỗi ngày bú mẹ khoảng 50 – 80 mL sữa mẹ, đã phải nuốt vào ít nhất 75.000 pg chất Dioxin mỗi ngày!

Cho đến hiện nay, người ta đã biết rõ, Dioxin là chất độc hại nhất cho cơ thể con người, do chính con người tạo ra! Năm 1998, Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung Thư đã khẳng định, dioxin là chất gây ung thư.

Ngoài 19 loại ung thư và bệnh lý mà chính phủ Hoa kỳ đã công nhận do Dioxin gây ra, gần đây có một số nghiên cứu của châu Âu, đã được báo cáo tại Hội nghị thường niên Hội Thấp khớp học Hoa kỳ và Hội Thấp khớp học Pháp năm 2018 cho thấy, bệnh gút có thể có nguồn gốc từ phơi nhiễm Dioxin.

Những nghiên cứu dịch tễ gần đây mô tả xu thế tăng lên của tần suất và tỷ lệ mới mắc bệnh gút giúp chúng ta hiểu rõ cơ chế sinh bệnh và xác định thêm các yếu tố nguy cơ của nó. Sự hiểu biết mới cũng làm rõ hơn, những bệnh thường đi đôi và gây tử vong cùng với bệnh gút, như bệnh tim mạch, bệnh thận....

Gút là một dạng thường gặp nhất của bệnh lý viêm khớp, làm giảm chất lượng cuộc sống rất nghiêm trọng vì đưa đến triệu chứng đau nhức mạn tính [1–3].

Chất uric acid trong huyết thanh tăng lên (hyperuricaemia), tinh thể urat sẽ đọng lại ở các khớp xương tay chân, nhất là các ngón tay, ngón chân, sưng phù lên thành một cục (gọi là tophi), thường là nhỏ, nhưng cũng có khi to, phá hủy các khớp, gây đau đớn triền miên, đưa đến cong vẹo tay chân, giảm chất lượng cuộc sống nặng nề.`

Tỷ lệ mắc bệnh gút chung trên toàn thế giới là 1 – 10% và có sự khác biệt khá lớn giữa các quốc gia. Đài Loan có tỷ lệ cao nhất, nam 9,5% và nữ 2,8%. Hàn Quốc tỷ lệ bệnh rất thấp, dưới 1%. Hiện Việt Nam chưa công bố tỷ lệ mắc bệnh chung và chỉ có một số nghiên cứu nhỏ lẻ ước đoán về số lượng và tỷ lệ bệnh nhân gút trong dân số. Theo thống kê năm 2000 của phường Trung Liệt – Hà Nội và xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng – Hải Dương, thì tỷ lệ mắc bệnh gút chiếm 0,14% dân số. Bệnh viện Bạch Mai đã nghiên cứu bệnh gút từ năm 1991 đến năm 2000 cho thấy tỷ lệ bệnh gút là 8,57% ở người Việt Nam.

Theo giáo sư Thomas Bardin, trưởng khoa Cơ – Xương – Khớp Bệnh viện Lariboisière – Paris VII, Pháp, gút là một bệnh nguy hiểm vì biến chứng lâu dài là suy tim, suy thận mãn, hay biến chứng của bệnh đái tháo đường típ 2 rất khó điều trị, thậm chí bế tắc. Một nghiên cứu của ông hợp tác với Viện Gút TP Hồ Chí Minh và Khoa Y Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh thì tuổi trung bình bệnh nhân là 47 tuổi.

Trước khi mắc bệnh gút, bệnh nhân thường có acid uric trong máu cao. Acid uric có thể đọng tinh thể mononatrium urat trong các khớp và mô liên kết gây ra các cục tophi gây đau đớn, hoặc lắng đọng trong kẽ thận gây ra sỏi thận.

Trong số người có acid uric cao trong máu, có tới 40 -50% sẽ tiến triển thành bệnh gút. Thời gian từ khi tăng acid uric trong máu đến khi có cơn gút đầu tiên có thể kéo dài 20 – 30 năm và khoảng 10 – 40% trong số đó có thể có cơn đau quặn thận, cả trước khi viêm khớp.

Độ tuổi mắc bệnh chủ yếu là trung niên ở nam giới và sau mãn kinh ở nữ giới. Gút chủ yếu xảy ra ở nam, tỷ lệ nam/nữ hiện nay là 3 – 4/1. Gút hiện đang xuất hiện ở độ tuổi trẻ hơn, và càng trẻ thì bệnh càng nặng.

Các giai đoạn của bệnh gút:

Giai đoạn tăng acid uric máu đơn thuần,

Những cơn viêm khớp gút cấp,

Viêm khớp cấp cách quãng,

Giai đoạn viêm khớp gút mạn tính.

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện tại là tiêu chuẩn Bennet và Wood (1968) do dễ nhớ và phù hợp với điều kiện thiếu xét nghiệm, với độ nhạy 70% và độ đặc hiệu là 82,7%, cụ thể là:

a. hoặc tìm thấy tinh thể muối urat trong dịch khớp hay trong các hạt tophi;

b. hoặc tối thiểu có 2 trong các yếu tố sau đây:

Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của 1 khớp với tính chất khởi phát đột ngột, đau dữ dội và khỏi hoàn toàn trong vòng 2 tuần.

Tiền sử hoặc hiện tại có sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như trên.

Có hạt tophi

Đáp ứng tốt với colchicine (giảm viêm, giảm đau trong vòng 48 giờ) trong tiền sử hoặc trong đợt điều trị hiện tại.

Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc 2 yếu tố của tiêu chuẩn b

Hiện nay, ở Việt Nam chưa thực hiện chọc dò dịch khớp để khảo sát tinh thể urat, nên chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng.

Năm 2020 – 2021 là đã 60 năm không quân Hoa Kỳ bắt đầu rải các loại chất độc hóa học lên môi trường, rừng rậm, rừng ngập mặn ven biển cũng như hàng ngàn làng mạc nơi nhiều triệu dân cư đã sống. Đó thực sự là một cuộc chiến hủy diệt môi trường, sinh thái, hủy diệt cuộc sống, tàn phá cơ thể con người nhiều thế hệ cùng với các loài động vật khác trên đất nước Việt Nam.

Để thấu hiểu những bệnh tật, đau đớn về thể xác làm giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của nạn nhân chất độc da cam/dioxin ở các địa phương sau 60 năm phơi nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp với chất độc da cam/dioxin, hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam kết hợp với thành hội, tỉnh hội, quận huyện hội đã phối hợp với bệnh viện các địa phương, bắt đầu thực hiện một nghiên cứu cắt ngang về “tình hình sức khỏe của nạn nhân chất độc da cam/dioxin” với các xét nghiệm cần thiết nhất về tổng trạng, các bệnh lý, chức năng các cơ quan – nhất là gan và thận, acid uric, tìm ra những nguy cơ gây bệnh gút để việc điều trị được thực hiện sớm và hiệu quả hơn.

CƠ QUAN CHỦ TRÌ NGHIÊN CỨU

Cơ quan chủ trì nghiên cứu: Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.

Cơ quan phối hợp:

Bệnh viện đa khoa các tỉnh, huyện có đủ khả năng khám và siêu âm, xét nghiệm, với sự đồng ý của Sở Y tế.

Bệnh viện Mỹ Đức Thành phố Hồ Chí Minh đảm nhiệm việc thu thập, nhập và xử lý tổng kết số liệu điều tra do phòng Nghiên cứu khoa học của bệnh viện đảm trách.

Người được phân công chịu trách nhiệm viết đề cương và tổ chức thực hiện nghiên cứu là bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng với sự hợp tác hỗ trợ của ThS. Phạm Dương Toàn – Trưởng phòng nghiên cứu khoa học - Bệnh viện Mỹ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu thứ 1: tình trạng sức khỏe tổng quát của nạn nhân CĐDC/Dioxin 60 năm sau khi quân đội Hoa kỳ bắt đầu rải các CĐHH xuống đất nước Việt Nam, có phân tầng về số tuổi, phân biệt nạn nhân phơi nhiễm trực tiếp hay gián tiếp trong chiến tranh và sau chiến tranh (ở trong hoặc ở gần các sân bay còn tồn lưu dioxin), ở từng địa phương nghiên cứu (quận 2, Hóc Môn, Củ Chi – TP Hồ Chí Minh; tỉnh Đồng Nai; Tây Ninh; Bến Tre; Bạc Liêu) và gộp chung tất cả nạn nhân các địa phương, tập trung chính vào tỷ lệ các bệnh:

Tim mạch: cao HA, bệnh mạch vành, suy tim

Cơ quan hô hấp: phổi và đường hô hấp trên (mũi, thanh quản, khí quản, phế quản), có viêm hay bệnh lý khác hay không?

Gan: chức năng gan, các loại u và ung thư gan

Bệnh đái tháo đường,

Thận: chức năng thận và tổn thương khác

Có sinh con khuyết tật, hoặc chết lưu 3 lần trở lên hay không?

Nồng độ uric acid-huyết thanh trung bình ở mỗi địa phương

Tỷ lệ người có uric acid huyết thanh cao +/- bệnh gút: có cục tophi, đau nhức, khuyết tật ở các khớp xương hoặc có tiền sử đã đau khớp + cục tophi

Mục tiêu nghiên cứu thứ 2:

Nếu nạn nhân có bệnh gút, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị sớm cho nạn nhân.

2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang vào tháng 07/2020 (Đồng Nai); tháng 10 đến hết tháng 12/2020 ở các địa phương khác, có chú ý đặc biệt tầm soát nồng độ uric acid-huyết thanh và bệnh gút để điều trị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho nạn nhân CĐ DC/Dioxin.

Số liệu sẽ được phân tích theo phần mềm R.

THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Tháng 5 và 6/2020: viết đề cương nghiên cứu.

Cuối tháng 6/2020: trình duyệt Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu khoa học của hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.

Tháng 7/2020: bắt đầu khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai.

Tháng 10 đến hết tháng 12/2020: khám ở những địa phương còn lại.

Tháng 01 đến tháng 06/2021: nhập và xử lý data thu được từ các địa phương.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tất cả nạn nhân của 3 quận/huyện, Thành phố Hồ Chí Minh được chọn ngẫu nhiên bằng bốc thăm: quận 2 (nội thành – 118 nạn nhân), huyện Hóc Môn (vùng ven – 120 nạn nhân) và huyện Củ Chi (ngoại thành – 345 nạn nhân).

2 tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, chọn ngẫu nhiên: Bến Tre và Bạc Liêu

3 tỉnh ở miền đông Nam bộ, chọn ngẫu nhiên: Đồng Nai, Tây Ninh. Mỗi tỉnh chọn 300 nạn nhân.

1 tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng số nạn nhân đồng ý tham gia nghiên cứu là 2079 người, có các đặc điểm như sau:

Bảng 1: Đặc điểm dân số

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Bảng 2: Khảo sát lịch sử phơi nhiễm dioxin

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Bảng 3: Kết quả sức khỏe tổng quát

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Bảng 4: Kết quả xét nghiệm công thức máu

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Bảng 5: Kết quả công xét nghiệm sinh hóa

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Bảng 6: Kết quả sức khỏe tổng quát nhóm có năm sinh từ 1971 về trước

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Bảng 7: Kết quả công xét nghiệm sinh hóa nhóm có năm sinh từ 1971 về trước

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Bảng 8: Kết quả sức khỏe tổng quát nhóm có năm sinh sau 1971

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

4. BÀN LUẬN

Đặc điểm nạn nhân CĐDC trong nhóm nghiên cứu:

Do tình hình dịch Covid-19, nên thời gian đi điều tra cơ bản và khám bệnh bị chậm lại đến tháng 03/2021.

Số lượng người đi khám ít hơn số dự tính do đã tử vong hoặc bệnh nặng, không đi lại được hoặc do đã chuyển nơi ở khác.

Chúng tôi để cột Biên Hòa (2 phường bao quanh sân bay Biên Hòa) tách ra khỏi miền Đông Nam Bộ vì, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy,môi trường ở các tỉnh khác đã không còn nhiều dioxin sau 60 năm kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh hóa học, chỉ có Biên Hòa, những phường hiện đang có vị trí bao quanh sân bay là có thể còn bị ảnh hưởng của dioxin.

Tuổi: đa số trên 60 tuổi

Biểu đồ 1: Phân bố tuổi

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Nạn nhân nhiễm trực tiếp: từ 32% đến 71,6%, tùy theo địa phương, nhiều nhất vẫn là quanh sân bay Biên Hòa. Có hơn 20% phụ nữ nhiễm trực tiếp có cho con bú sữa mẹ; đây là nguồn nhiễm gián tiếp, truyền ảnh hưởng của CĐ DC cho các thế hệ về sau.

Tình trạng sức khỏe hiện tại:

Hầu hết nạn nhân CĐDC/dioxin đã lớn tuổi nên mắc nhiều bệnh lý, vừa của người già, vừa do CĐDC/dioxin:

Cao huyết áp: chiếm 65% tổng số NN nghiên cứu; 48.2 (Đồng Nai và Tây Nimh) – 71,5% (Bạc Liêu và Bến Tre)

Đái tháo đường: chiếm 46,1% tổng số NN nghiên cứu, trong đó, ở Tây Nguyên 28.3%,– và 71.0 ở Biên Hòa, riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh là 67,3% số NN nghiên cứu.

Bệnh tim mạch: chiếm 48% tổng số NN nghiên cứu, ở miền Đông Nam Bộ 37.4% – và 59.3% ở Biên Hòa.

Thiếu máu có tỷ lệ khá cao

Biểu đồ 2: Tỷ lệ nạn nhân có xét nghiệm công thức máu bất thường theo địa phương

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Tỷ lệ bệnh gút trên tổng số NN nghiên cứu là 19,3% có triệu chứng gút (5,3% người < 50 tuổi và 21,9% người > 50 tuổi) cao hơn so với nghiên cứu của Bệnh viện Bạch Mai (1.991 – 2.000) là 8,57% và ở phường Trung Liệt Hà Nội là 0,14%. Theo số liệu bộ Y Tế, (trên mạng) năm 2014, có khoảng 1% tổng số dân số, 96% là nam giới và 38% khoảng 40 tuổi, 75% ở độ tuổi lao động.

Theo nghiên cứu, kết quả về bệnh gút và acid uric như sau:

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Biểu đồ 3: So sánh tỷ lệ bệnh gút ở nam và nữ:

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM
Biểu đồ 4: Phân bố nạn nhân bị gút theo tuổi và giới tính

Các loại ung thư:

Gan: 8.1% trên tổng số NN nghiên cứu so với số liệu của Việt Nam năm 2020 là 26.418 bệnh nhân mắc mới/tổng số khoảng 98 triệu dân # 2,7%

Phổi: 6.5% trên tổng số NN nghiên cứu, riêng ở Tây Nguyên là 15.8%.

Tiền liệt tuyến: chiếm tỷ lệ 4,3% trên tổng số NN nghiên cứu, so với tỷ lệ 7,9% năm 2018 (IARC – cơ quan nghiên cứu về ung thư quốc tế). Theo số liệu của Bệnh viện Ung thư Hà Nội thì có 2,7/100.000 dân.

Các xét nghiệm sinh hóa bất thường nhiều nhất ở nhóm tăng đường huyết ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở Biên Hòa và Tây Nam Bộ.

Biểu đồ 5: Tỷ lệ nạn nhân có kết quả sinh hóa bất thường theo địa phương

ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NẠN NHÂN  CHẤT ĐỘC DA CAM MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Tỷ lệ sinh con có khuyết tật bẩm sinh:

1 con khuyết tật bẩm sinh: 45,6%

2 con khuyết tật bẩm sinh: 8,5%

>= 3con khuyết tật bẩm sinh: 3,3%

Cháu khuyết tật (thế hệ thứ ba) có tỷ lệ 5,7%

Chúng tôi phân tích riêng nhóm nạn nhân trên 50 tuổi, tức là sinh trước hoặc trong năm 1971, so với những nạn nhân, nhỏ hơn hay bằng 50 tuổi, tức là sinh trong năm hoặc sau năm 1971, là thời điểm đã chấm dứt rải CĐHH trên công bố chính thức. Những nạn nhân trên 50 tuổi có nhiều bệnh hơn, có thể do tuổi già hoặc do bị trực tiếp phơi nhiễm. Thí dụ:

Đau nhức xương khớp: 84,4% > 50 so với 44,8% < 50 tuổi

Cao huyết áp 76,9% trên 50 tuổi và 15,6% dưới 50 tuổi

Bệnh gút: 22,1% trên 50 tuổi (rất cao so với người dân bình thường) và 7,9% dưới 50 tuổi.

Đái tháo đường: 55,3% trên 50 tuổi (rất cao so với người dân bình thường) và 7,7% dưới 50 tuổi

Về mục đích điều trị cho bệnh nhân, chúng tôi có lập danh sách các nạn nhân có lượng acid uric trong máu cao và có bệnh gút ở các địa phương. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh, không đi lại giữa các địa phương và Gs Thomas Bardin cũng chưa trở qua Việt Nam, nên chúng tôi chưa tổ chức đưa nạn nhân đi khám và điều trị ở Viện Gút TP HCM được.

5. KẾT LUẬN

Đa số nạn nhân đã lớn tuổi, hầu hết trong khoảng 60 -80 tuổi, nhiều nạn nhân có cao huyết áp.

Nhiều nạn nhân có hoàn cảnh khó khăn vì phải chăm sóc người thân đau yếu hoặc con cháu khuyết tật nên tỷ lệ thiếu máu khá cao.

Ung thư tiền liệt tuyến cao (4,3%) so với số liệu của Bệnh viện K Hà Nội (2,7/100.000 nam giới)

Bệnh đái tháo đường cao (46,1%) so với người Việt Nam hiện tại (4% ĐTĐ và 10% tiền ĐTĐ).

Bệnh gút cao so với dân số bình thường (19,3%), 17% nằm trong độ tuổi từ 31 đến 60 tuổi. Hầu hết đều chẩn đoán trễ nên có nhiều trường hợp đã có biến dạng tay chân.

Có thể kết luận sơ bộ rằng, nạn nhân CĐ DC ở Việt Nam, mặc dù đã được Nhà nước và Hội NNCĐ DC chăm sóc về vật chất và tinh thần nhưng chưa đáp ứng được hoàn toàn các nhu cầu thiết yếu về các bệnh lý gây ra do các chất độc hóa học, nhất là chất Da Cam và Dioxin.

Hội đề nghị Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng cùng Văn phòng 701 hỗ trợ nghiên cứu toàn diện hơn để có số liệu đầy đủ và chính xác. Từ đó, chúng ta có thể hỗ trợ nạn nhân một cách thiết thực hơn, giảm những nỗi đau tinh thần và thể chất của họ. Nhờ vậy, chúng ta có thể giúp nạn nhân cũng như các thế hệ con cháu của họ, cũng là nạn nhân chất độc da cam, nâng cao chất lượng cuộc sống của những người đã từng đóng góp, hi sinh cho sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước.

Hy vọng rằng, các công ty hóa chất có thêm nhận thức về trách nhiệm để tạo điều kiện cho ngành Y Việt Nam có thể đáp ứng được nhu cầu điều trị các bệnh do CĐ DC và Dioxin gây ra.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Veterans and Agent Orange: Update 11 (2018) (2018) 738 pages | 6 x 9 | HARDBACK ISBN 978-0-309-47716-1 | DOI 10.17226/25137 Committee to Review the Health Effects in Vietnam Veterans of Exposure to Herbicides (Eleventh Biennial Update); Board on Population Health and Public Health Practice; Health and Medicine Division; National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine 2018. Veterans and Agent Orange: Update 11 (2018). Washington, DC: The National Academies Press. https://doi.org/10.17226/25137.

Pham, T. T., M. Nishijo, A. T. N. Nguyen, N. N. Tran, L. V. Hoang, A. H. Tran, T. V. Nguyen, and H. Nishijo. 2015. Perinatal dioxin exposure and the neurodevelopment of Vietnamese toddlers at 1 year of age. Science of the Total Environment 536:575–581.

Phuong, N. T. N., and L. T. D. Huong. 1983. The effects of toxic chemicals on the pregnancy of the women living at two localities in the South of Vietnam. Summarized by John Constable and Maureen Hatch (1985).

Phuong, N. T. N., T. T. Thuy, and P. K. Phuong. 1989a. An estimate of differences among women giving birth to deformed babies and among those with hydatidiform mole seen at the Ob-Gyn Hospital of Ho Chi Minh City in the south of Vietnam. Chemosphere 18:801–803.

Phuong, N. T. N., T. T. Thuy, and P. K. Phuong. 1989b. An estimate of reproductive abnormalities in women inhabiting herbicide sprayed and non-herbicide sprayed areas in the south of Vietnam, 1952–1981. Chemosphere 18:843–846.

John Constable, Meselson and Baughmann - Massachusett General Hospital – 1970

Arnold Schecter, Thomas A. Gasiewicz. Dioxins and Health – second edition.

Thomas Bardin 1 2 3, Pascal Richette 4 5 Defining remission in patients with gout. Nat Rev Rheumatol 2019 Sep;15(9):516-517.PMID: 31363189 DOI: 10.1038/s41584-019-0280-0

Van Leeuwen FXR, Younes M (1998) WHO revises the Tolerable Daily Intake (TDI) for dioxins. Organohalogen Compounds 38, 295–8.

Safe S (1990) Polychlorinated biphenyls (PCBs), dibenzo-p-dioxins (PCDD), dibenzofurans (PCDFs) and related compounds: environmental and mechanistic considerations which support the development of toxic equivalency factors (TEFs). CRC Crit Rev Toxicol 21,51–88.

Birnbaum L (1994) Evidence for the role of the Ah receptor in response to dioxin. In: Receptor-mediated Biological Processes: Implications for Evaluating Carcinogens. Progress in Clinical and Biological Research. Vol. 387 eds. by Spitzer H, Slage T, Greenlee W, McClain M, 139–54, Wiley-Liss, New York.

Matsumura F (1994) How important is the protein phosphorylation pathway in the toxic expression of the dioxin-type chemicals? Biochem Pharmacol 48, 215–24.

Birnbaum LS (1995) Developmental effects of dioxins. Environ Health Perspect 103, 89–94.6) DeVito M, Birnbaum L (1994) Toxicology of dioxins and related compounds. In: Dioxins and Health. ed. by Schecter A, 139–62, Plenum Press, New York.

Safe S, Astroff B, Harris M, Zacharewski T, Dickerson R, Romkes M, Biegel L (1991) 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (TCDD) and related compounds as antiestrogens: characterization and mechanism of action. Pharmacol Toxicol 69, 400–9.

Gray LE, Wolf C, Mann P, Ostby JS (1997) In utero exposure to low dose of 2,3,7,8-tetrachlorodibenzop-dioxin alters reproductive development of female Long Evance hooded rat offspring. Toxicol Appl Pharmacol 146, 237–44.

Van Birgelen A, Smit E, Kampen I, Groeneveld C, Fase K, Van der Kolk J, Poiger H, Van den Berg M, Koeman J, Brouwer A (1995) Subchronic effects of 2,3,7,8-TCDD or PCBs on thyroid hormone metabolism: use in risk assessment. Eur J Pharmacol 293, 77–85.

Fan F, Rozman K (1995) Short- and long-term biochemical effects of 2,3,7,8 tetrachlorodibenzo-pdioxin in female Long-Evans rats. Toxicol Lett 75, 20

The changing epidemiology of gout”, Nature Clinical Practice Rheumatology (2007) 3, 443–449.

“Global epidemiology of gout: prevalence, incidence and risk factors”, Nature Review Rheumatology (2015) 11, 649–662.

Tài liệu Bộ Y tế qua các năm 2003-2014 trên mạng internet.

Hội nghị khoa học chuyên đề “Kiểm soát hiệu quả bệnh gút” tại Bệnh việt Nhân dân 115 TPHCM ngày 21/05/2019.

BS. CK2. Đoàn Thị Huyền Trân – “Tiêu chuẩn phân loại bệnh gút” Hội nghị ngày 21/05/2019 như trên.

PGS. TS. BS. Nguyễn Đình Khoa – Bệnh viện Chợ Rẫy – “Cơ chế thuốc hạ acid uric máu và khác biệt giữa Febuxostat và Allopurinol.