• Quảng cáo: 0246.265.2654
Tiếng Việt
English
logo
ĐOÀN KẾT - NGHĨA TÌNH - TRÁCH NHIỆM - VÌ NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM

NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM  VÀ NỖI LO VỀ THẾ HỆ TƯƠNG LAI

"Nạn nhân chất độc da cam và nỗi lo thế hệ tương lai" là công trình nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Bá Thịnh, công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Công tác xã hội, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tạp chí Da cam Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Giới thiệu

 Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, vấn đề chất da cam/dioxin trong chiến tranh Việt Nam thu hút sự quan tâm của các cấp chính quyền, Hội chữ thập đỏ, các nhà khoa học trong và ngoài nước. Trong đó, Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và  Môi trường trong phát triển (CGFED) đã có những hoạt động khoa học hữu ích và thiết thực về nạn nhân chất độc da cam. Trong thời gian từ 2000 -2005, nhóm cán bộ nghiên cứu của Trung tâm CGFED đã khảo sát 206 gia đình có nạn nhân chất độc da cam tại 16 tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước, tổ chức Hội thảo quốc tế với chủ đề “Nạn nhân chất độc da cam - Những điều mong muốn”[1], xuất bản các tờ rơi, sách, tạp chí (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp) về nạn nhân chất độc da cam. 

Từ những tư liệu về nạn nhân chất độc da cam của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển (CGFED) mà tác giả là thành viên nhóm nghiên cứu, và tham khảo tài liệu khác có liên quan, bài viết này đề cập đến một vài tổn thương tâm lý, tinh thần của nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam. Tập trung vào các chủ đề: nỗi lo lắng về đạo đức, tâm linh; sự bất an khó nhắm mắt; thế hệ thứ ba là nạn nhân chất độc da cam và nỗi lo sinh con nối dõi tông đường.

1.  Chất độc da cam và sự huỷ diệt môi trường sống con người

Theo công trình nghiên cứu được công bố trên tập san khoa học uy tín thế giới Nature, tổng số hóa chất mà quân đội Mỹ đã phun rải xuống Việt Nam trong thời gian 1961-1971 là 76,9 triệu lít, trong đó chất da cam (thường được gọi là chất độc da cam vì trên mỗi thùng đựng 55 ga-lông có sơn 3 vạch mầu da cam) chiếm 64% (49,3 triệu lít).

Ngoài chất độc da cam, năm loại khác cũng được quân đội Mỹ dùng ở Việt Nam là các loại chất độc mang ký hiệu trắng, xanh da trời, hồng, đỏ tía và xanh lá cây (xem hình).

 Hình: Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam

 Ghi chú:  số  lượng  hoá chất được rải không được báo cáo đầy đủ, do vậy tổng số gallon còn cao hơn nhiều. (Nguồn: Chicago Tribune, 12. 2009) 

Ước tính tổng lượng dioxin được sử dụng trong chiến tranh ít nhất là 366 kg[2]. Mục tiêu quân sự của việc rải các loại chất độc này là khai hoang các vùng rừng rậm để biến các vùng trên là nơi "trắng", không bảo vệ cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Chất này đã được sử dụng với quy mô rộng rãi vào những năm 1967 và 1968 và chỉ thật sự chấm dứt vào ngày 30-6-1971, đã phá hủy 13 nghìn km2 cây lương thực và cây ăn quả, tàn phá 43% diện tích rừng của toàn miền Nam. Việc làm này đã để lại chất cặn dioxin, chất hóa học có độc tố cao và dai dẳng, làm giảm tuổi thọ của con người và có khả năng gây suy giảm sức khỏe của các thế hệ sau (Geoffrey C, Joshua K, và cs 2010)

Theo kết quả nghiên cứu của Công ty Tư vấn môi trường ở Ca-na-đa (Hatfield Consultants) và TS Arnold Schecter - Trường Y tế công cộng thuộc Trường đại học Texas - Houston, ở Việt Nam có khoảng từ 10 đến 50 "điểm nóng dioxin" là những vùng có mức độ nhiễm dioxin rất cao, vượt tiêu chuẩn quốc tế hàng chục, thậm chí hàng nghìn lần. Nghiên cứu của nhóm này cho thấy vùng đất quanh thành phố Đà Nẵng hiện nay nhiễm lượng dioxin gấp 365 lần tiêu chuẩn quốc tế cho phép.(Geoffrey C, Joshua K, và cs 2010)

Ðau xót hơn, loại chất độc này đã làm cho gần 3 triệu (hơn hai triệu người dân Việt Nam bị nhiễm độc, hơn năm vạn trẻ em sinh ra bị dị dạng, quái thai) và tạo ra những biến đổi nội tại gây tác hại về mặt di truyền nhiều thế hệ. Sau nhiều năm theo dõi, đánh giá về nạn nhân chất độc da cam ở Ðà Nẵng, cho thấy: ảnh hưởng của chất độc hóa học dioxin đối với con cái của các nạn nhân bị phơi nhiễm là rất nghiêm trọng. Nhiều trẻ em sinh ra tử vong ngay. Một số khác bị dị dạng, dị tật bẩm sinh hoặc tật nguyền, ảnh hưởng của dioxin còn kéo dài suốt đời. 

Chính phủ Việt Nam ước tính, Mỹ đã  rải chất độc hóa học này xuống diện tích 12 nghìn dặm vuông, chiếm 11% tổng diện tích đất nước. Một phân tích hơn 3.000 người Việt Nam, được công bố trên tạp chí Sức khỏe cộng đồng của Mỹ (American Journal of Public Health) cho thấy có nồng độ dioxin trong máu cao hơn rất nhiều so với những người không sống trong vùng bị rải chất khai quang. (Washington Monthly, January/February 2010)

Hậu quả của chất độc da cam/dioxin đã gây nên những hậu quả khôn lường đối với người Việt Nam. Hiện nay, cả nước ta có khoảng 4,8 triệu người bị phơi nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin, trong đó có khoảng ba triệu người là nạn nhân của chất độc da cam, hơn 150 nghìn nạn nhân là trẻ em (cả thế hệ con và cháu). Các nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam là những người có cuộc sống vất vả nhất trong số những người nghèo khổ, do bệnh tật kéo dài, sức khỏe kém, không thể tham gia lao động như người bình thường để có việc làm và thu nhập. (ND, 12/8/2009). 

Tài liệu nghiên cứu hơn 200 gia đình nạn nhân chất độc da cam của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển (CGFED) cho thấy con cái của họ bị dị tật sau khi sinh (xem bảng)

Bảng: Phân loại số trẻ em nạn nhân chất  độc da cam/dioxin bị dị tật sau khi sinh

Loại dị tật

Nam

Nữ

Tổng

Não

68

50

118

Liệt

18

13

31

Động kinh

5

3

8

Bướu

-

2

2

Tim

2

1

3

Dị dạng tai

1

2

3

Hở hàm ếch

2

3

5

Dị ứng, mụn, lở loét

10

12

22

Dị tật cột sống

-

2

2

Dị tật hậu môn, đường sinh dục, viêm tiết niệu

2

1

3

Khớp

1

-

1

Nổi hạch khắp người

1

-

1

Ung thư thanh quản

1

-

1

Dị tật chân tay

19

16

35

Câm điếc

4

8

12

2

3

5

Tổng

136

116

252

(Nguồn: tác giả thống kê từ Tài liệu nghiên cứu của CGFED)

Có thể kể ra hàng ngàn trường hợp về những nỗi khổ đau của các gia đình có con tật nguyền là nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Như “Ngày chị Kăn Lây ở thôn Hợp Thành, xã A Ngo, sinh một cháu bé có thân hình lạ thường, không chân, tay, chỉ có đầu và mắt, cả xóm Hợp Thành hoảng sợ. Cháu bé tội nghiệp này sống không quá  hai giờ thì qua đời. Sau đó, thêm ba lần chị có thai và đều bị hỏng. Năm 1991, chị sinh bé trai có tên Bắc. Năm nay đã 18 tuổi Bắc vẫn liệt toàn thân, không biết nói, người lúc nào cũng co cứng chân tay và cuộn tròn trên giường”.(ND, 12/8/2009)

Và “Sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường miền Ðông Nam Bộ, đất nước hòa bình, anh Ðinh Phương trở về cuộc sống đời thường với một cơ thể không lành lặn. Anh lấy vợ, sinh con, nhưng con anh - cháu Ðinh Thị Loan đã gần 20 tuổi, cân nặng không đầy 20 kg. Cả người em co quắp, chân tay cong gập, vặn vẹo. Loan nằm liệt giường từ ngày sinh ra đời đến tận nay. Với gia đình anh Phương, nỗi đau không dừng lại ở đó. Trước cháu Loan, cả ba lần mang thai vợ chồng anh đều chỉ giữ được đến tháng thứ tư rồi sảy thai”

Không chỉ nạn nhân ở Việt Nam, mà ngay cả con em các cựu binh Mỹ cũng chịu hậu quả này “Năm 2007, Bộ Cựu chiến binh Mỹ đã thông báo là 1.200 con em cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam đã mắc bệnh nứt đốt sống- một dị tật bẩm sinh có liên quan mật thiết tới một thành phần chính của chất độc da cam” (ND, 11/1/2010)

 2. Nạn nhân chất độc da cam và những tổn thương tâm lý, tinh thần 

2.1. Nỗi tủi hổ và nước mắt da cam sau chiến tranh

Theo tài liệu của GS, TS Nguyễn Trọng Nhân, do tác hại của dioxin, tỷ lệ các dị tật bẩm sinh như không có não, sứt môi hở hàm ếch cũng như nhiều bệnh rối loạn phát triển khác ở Việt Nam cao hơn so với nhiều nước khác, ngay cả sau khi chiến tranh đã kết thúc hơn ba mươi năm nay. Trong các con của nạn nhân chất độc da cam, tỷ lệ bị dị tật nhiều gấp bốn lần, trong các cháu của nạn nhân thì tỷ lệ đó nhiều gấp ba lần so với con cháu các gia đình không bị nhiễm độc. Các dị tật bẩm sinh được phát hiện ở thế hệ con các nạn nhân với tỷ lệ 2,95% so với 0,74% ở con những người không bị nhiễm độc; ở thế hệ cháu các nạn nhân với tỷ lệ 2,69% so với 0,82% ở các cháu những người không bị nhiễm độc.  

Với những gia đình có người là nạn nhân chất độc da cam, sự vất vả, tốn kém về kinh tế, thời gian, và nỗi lo lắng luôn đè nặng lên cuộc sống gia đình của họ. Có thể kể ra rất nhiều trường hợp  về  nỗi  đau “nước mắt da cam sau chiến tranh”.

Đa số gia đình có nạn nhân chất độc da cam khó khăn về kinh tế. Người vất vả nhất thường là phụ nữ -người vợ, người mẹ - chăm sóc chồng, con tật nguyền.  

“Không có thời gian chơi, ban ngày làm, tối tranh thủ giặt giũ. Phục vụ để cho con mình bằng con người ta. Con người ta được 10, con mình cũng được 5 - 6. Mình cứ phấn đấu con có bát cơm ăn. Thương con lắm, trông con người ta như vậy con mình thì vậy nghĩ thương (khóc…)”(Nữ, 40 tuổi, Nam Định)

Bên cạnh nỗi vất vả vì chăm sóc, trông nom chồng con đau ốm bệnh tật, người phụ nữ - người mẹ này còn có nỗi khổ về tinh thần, e ngại tiếp xúc với người khác chỉ vì sinh ra đứa con bị khuyết tật:

“ Xấu hổ, người ta sinh con thì mạnh khoẻ, mình sinh con thì đau ốm. Bế con đi viện Nhi Thuỵ Điển cứ ngồi khóc. Lúc đầy khó khăn chỉ có hai mẹ con tự phục vụ cơm nước. Lúc đấy không có tiền, đi ở trọ, cứ bế con vác trên vai, cháu không bế nách được. Bế ngửa con đi nấu cơm cứ khóc. Tuổi như vậy thì mình phải chịu, mà có làm tội làm tình ai đâu mà mình phải chịu khổ. Khổ tâm lắm. Lúc nào cũng nghĩ là khổ. Vì người ta sinh con thì đẹp đẽ, mình thì vậy nên xấu hổ với bạn bè. Bạn gọi họp lớp có dám đi đâu. ngày Tết nhất tôi cũng chẳng dám đi gặp gỡ mọi người”.

Ngay cả người trong thôn xóm hay bạn học cũ, do tủi thân vì đứa con tật nguyền, nên chị  càng ít đi lại, ngại gặp gỡ: “Mà con bị như vậy thì đi đâu? Cưới xin anh em thì bất đắc dĩ mới phải đến, chỉ đến lúc ăn cỗ, lúc chơi bời không đến. Đến thì tủi thân lắm. Người ta kể chuyện nhà họ con cái thế nọ thế kia, còn mình thì chẳng có gì...”(Nữ, 40 tuổi,Ý Yên, Nam Định)”.(Hoàng Bá Thịnh, 2006).

Một phụ nữ cao tuổi ở huyện ngoại thành Hà Nội, đau lòng khi nhớ về người con trai duy nhất đã mất vì nhiễm chất độc da cam/dioxin  “Ở Hà Nội, người ta bảo rằng cái chết của nó là do chiến tranh, họ nói đó là chất độc da cam. Mọi người trong huyện đều khóc thương cho nó… Khi chết nó mới 47 tuổi, nếu còn sống đến bây giờ thì cũng 55 tuổi rồi… Đôi khi tôi nghĩ đến những gia đình khác có nhiều con cái, nhiều con trai, còn tôi chỉ có mỗi thằng con trai thế mà nó lại đi trước tôi… Nghĩ đến điều đó thôi là tôi không ngủ được… Càng nghĩ tôi lại càng thấy đau lòng” (Phạm Hương Thảo và cs, 2006)

Theo quan niệm về nam tính, nam giới thường cứng rắn, ít bộc lộ sự mềm yếu của mình, và người ta hiếm khi thấy đàn ông khóc. Nhưng trước nỗi đau đớn của con vì bệnh tật do chất độc da cam, nhiều người cha đã không thể cầm được nước mắt  “Tôi là một người đàn ông, và đàn ông ít khi khóc”, người đàn ông 41 tuổi nói với đôi mắt thẫm đẫm nước khi vợ anh, chị Thu đang bế đứa trẻ yếu ớt trong tay. “Nhưng mỗi khi con trai tôi phải truyền máu, tôi không thể không khóc” (Jason G. và Tim J, 2009).  

Nhìn con cháu mình trong tình trạng như tật nguyền, đau đớn hàng ngày, mọi người trong gia đình không thể lúc nào cũng kìm được những giọt nước mắt. “Anh Dũng rất hay khóc về bệnh tình của con”(CGFED, 2004)

 Hộp 1: Nguyện cầu trong nước mắt...

Anh Nguyễn Xuân Thời, sinh1955, khi vào chiến trường đã hành quân qua Gia Lai, Kon Tum, dọc đường mòn Hồ Chí Minh, những vùng bị rải chất độc da cam. Năm 1977, anh lập gia đình với chị Nguyễn Ánh Tuyết và sinh 8 người con, trong đó 3 cháu tật nguyền . Cháu trai đầu sinh năm 1983, bị bệnh tim bẩm sinh, thủng lỗ dò, thông liên nhĩ và hở van 3 lá, sau khi phẫu thuật, thần kinh trở nên không bình thường. Một cháu sinh năm 1989 bị tê liệt chân, chậm nói và nói ngọng. Một cháu khác sinh năm 1999, bị sứt môi, hở hàm ếch. Anh chị rất lo cho tương lai các cháu, "lo sau này mình già không biết ai nuôi hắn nữa, ăn học ra làm sao, có vợ có chồng không, nghĩ rứa cũng buồn lắm". Điều duy nhất chị Tuyết có thể làm là hàng ngày cầu nguyện, “mỗi lần cầu nguyện là nói trong tâm tư và hai hàng nước mắt chảy ra”. (CGFED, 2004)

 Đề cập đến những nỗi đau khổ của nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam, Gs. Kenneth J. Herrmann, giám đốc Chương trình SUNY Brockport Việt Nam, gọi sự chậm trễ giải quyết vấn đề nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam là “Một sự tàn bạo vẫn tiếp tục gây ra nỗi đau không tả xiết”. Một người mẹ nói rằng “Chúng tôi tiếp tục khóc bằng nước mắt da cam kể từ ngày chiến tranh” (Kenneth J, 2006).

2.2. Nỗi đau tâm linh và lo chết không thể nào nhắm mắt.

Với người Việt Nam, đời sống tâm linh là một thành tố quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, nhất là mỗi khi người ta gặp những chuyện buồn, bất hạnh họ lại thường hay nghĩ về thế giới siêu nhiên. Như người mẹ sau đây “Tôi cứ bảo hay là bố mẹ tôi ăn trộm chuông chùa nên phải gánh tội. Hay là ăn độc ở ác nên mình phải tội. Nhưng rõ ràng từ khi sinh ra mình chưa có ăn ở độc ác với ai. Nhiều lúc bảo mẹ đừng sinh ra con, sinh ra để con khổ thế này. Bà lại ngồi khóc, có mỗi mình là con gái, bà bảo tao biết đâu, có vậy phải chịu. Thôi chịu khó nuôi con sau phải nhờ nó”(Nữ, 40 tuổi, Nam Định)

Cũng giống như nhiều công dân Việt Nam khác, người phụ nữ này và chồng bà đã mất rất nhiều năm tự dằn vặt mình trong đau khổ về việc đã sinh ra những đứa con dị dạng “Chúng tôi đã nghĩ rằng có thể chúng tôi đã làm điều gì đó thất đức trong quá khứ”. Còn  chồng  bà, có  lẽ  cũng  có  nỗi  khổ  tâm như vợ, nên đã  ăn chay “Điều đó giải thích việc chồng tôi đã trở thành một người ăn chay trường kỳ”.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông Đỗ Đức Địu và vợ, bà Phạm Thị Nức có tới 15 người con. 12 trong số đó đã chết trước tuổi lên ba, tất cả đều mắc chứng bệnh như Hằng. “Những ngôi mộ nhỏ bé nằm trên ngọn đồi cát đằng sau căn nhà mà gần như ngày nào ông Địu cũng thắp hương cho những linh hồn bé nhỏ. Ông Địu nói trong đau đớn Tôi có thể nói tôi không biết tới tương lai, và cũng không biết tới hạnh phúc”.(Chicago Tribune, 12/2009)

Bên cạnh nỗi dằn vặt về tâm linh, về đạo đức trong khi chính họ là nạn nhân của những kẻ thực hiện cuộc chiến tranh huỷ diệt, thì những người chồng, người vợ, người làm cha mẹ có con tật nguyền do di chứng chất độc da cam/dioxin lại còn có nỗi lo mai sau họ khuất núi, ai là người chăm sóc con cái của họ?

Như nỗi lo của người mẹ cao tuổi này “Tôi không thể không lo lắng cho sức khỏe của con và cháu tôi. Tôi thì đã già rồi, nên tôi không lo về sức khỏe của tôi nữa. Nhưng tôi rất lo cho chúng”

Một  người mẹ có con là  nạn  nhân chất  độc  da cam lo lắng “Tôi rất thương xót con tôi. Nếu tôi có thể sống lâu hơn nó, thì không sao. Nhưng nếu tôi mất sớm, tôi không biết ai sẽ chăm sóc nó sau này”.(Hoàng Bá Thịnh, 2006)

Như nỗi lo lắng về tương lai của những đứa cháu tật nguyền bởi di chứng chất độc da cam/dioxin, của hai người ông, hai cựu chiến binh:

“Bây giờ mình còn sức khoẻ thì mình cũng chăm các cháu, mai sau đến bố mẹ cháu và mình chết đi rồi thì không biết các cháu như thế nào”(Nam, 60 tuổi, Thạch Thất,  Hà Tây) và “Điều tôi băn khoăn lo lắng nhất là sợ rằng sau này tôi mất đi thì các con tôi và các cháu tôi sẽ không có chỗ đứng vì nó tâm thần như thế thì liệu nó có ổn định được cuộc sống của nó không” (Nam giới, 63 tuổi, Thạch Thất, Hà Tây)

 Hộp 2: Nếu tôi chết trước, chị em nó “thất thơ, thất thểu”

Hai vợ chồng chị Võ Thị Hồng sinh ra và lớn lên ở Quảng Nam, nơi bị giặc Mỹ rải chất độc da cam. Gần 30 năm sau, anh chị chuyển về sống tại Hàm Tân, Bình Thuận. Chị sinh 10 người con trong đó có hai cháu bị khuyết tật. Cháu Nguyễn Thành Duy sinh năm 1984,  bị ngớ ngẩn, hay đi lang thang, nói không mạch lạc, chỉ biết nói vài câu ngắn. Cháu Nguyễn Thị Thanh Thảo sinh năm 1993, bị câm và cũng có vấn đề về trí não. Hai cháu không tự ăn uống, tự vệ sinh được, sinh hoạt hàng ngày của hai cháu đều do chị Hồng chăm lo. Gia đình sống dựa vào nghề nông, kinh tế rất khó khăn. Chị tâm sự: "Không có lúc nào mình thấy sung sướng cả..." Về tương lai hai cháu, chị lo lắng: "Nếu nó chết trước tôi thì nó sướng, còn nếu tôi chết trước nó là chị em nó thất thơ, thất thểu... " (CGFED, 2004)

 Những nỗi lo đó, khiến cho người làm cha mẹ có con là nạn nhân chất độc da cam nếu mà chết cũng khó có thể nhắm mắt được. Nỗi lo và thương đứa con tật nguyền còn đeo đẳng theo họ mãi, dù họ còn sống hay đi về với tổ tiên. 

2.3. Thế hệ thứ ba là nạn nhân chất độc da cam và nỗi lo sinh con nối dõi.

Năm 1968, hai năm sau khi không quân Mỹ mở rộng việc sử dụng chất làm rụng lá lên tới hàng triệu galon, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng nói bà đã đỡ cho đứa trẻ sinh ra không có não hoặc không có dây cột sống. Trong những năm tháng tiếp theo bà nói, cứ ba hoặc bốn lần một tuần bà lại công bố hàng chục trường hợp trẻ sơ sinh với các khuyết tật trầm trọng, những đứa trẻ sinh ra với những dị tật bộ phận bên ngoài hoặc không có tay, không chân, không có mắt.

“Đối với tôi và các đồng nghiệp điều đó thật là kinh khủng” – bà nói, giọng đứt quãng trong khi lấy tay gạt nước mắt “Trường hợp đầu tiên đã xảy ra trong ca của tôi. Tôi đã không thể cho người mẹ biết, bởi vì tôi sợ bà ấy sẽ sốc mạnh. Nhưng người cha và các thành viên khác trong gia đình yêu cầu được thấy mặt con. Điều đó với họ thật quá sức chịu đựng”.

Trong nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển (CGFED),- bằng việc sử dụng các phương pháp kể chuyện đường đời, lịch sử đường sinh sản- có một số gia đình nạn nhân chất độc da cam thuộc thế hệ thứ ba. Một vài nghiên cứu trước đây (Hoàng Đình Cầu, 2003; Lê Cao Đài, 1999) có đề cập ảnh hưởng của chất độc da cam đến thế hệ thứ ba, nhưng chưa có nghiên cứu chi tiết và chưa có số liệu cụ thể, nhất là chưa đề cập đến những khía cạnh về đời sống tâm lý, tinh thần và tình cảm của những nạn nhân này. Số liệu thống kê ở tỉnh Thái Bình cho thấy: toàn tỉnh có 27.934 người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, trong đó có 17.662 người thuộc thế hệ thứ nhất (trực tiếp bị nhiễm trong chiến trường miền Nam), 8.047 người thuộc thế hệ thứ hai (thế hệ con) và 533 người thuộc thế hệ thứ ba, thế hệ cháu. (Hoàng Bá Thịnh, 2006).

Cũng như bao cặp vợ chồng khác ở Việt Nam, một trong những mục đích quan trọng của việc kết hôn là sinh con; vì thế, các cặp vợ chồng đó sau khi cưới thường có ý định sinh con ngay. Do còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng coi trọng con trai, nên gia đình nào sinh con gái, thường có xu hướng sinh thêm con. Cho dù, đứa con đầu không được mạnh khoẻ hoặc đã có dấu hiệu tật nguyền di chứng của chất độc da cam/dioxin.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, những thành viên của gia đình này, dường như đang ở trong tình thế lưỡng nan: vừa muốn sinh thêm con, vừa lại lo sợ con mình bị ảnh hưởng của chất độc da cam.

Trường hợp người phụ nữ sau đây là bà nội của một cháu gái bị liệt do ảnh hưởng chất độc da cam, và vẫn muốn con dâu sinh thêm cháu với hy vọng có thể gặp may có được đứa cháu bình thường, khoẻ mạnh: “Gia đình cũng không muốn sinh cháu thứ 3 đâu nhưng mà vợ chồng nhà nó nghĩ rằng cái con này (cháu nội bị liệt do ảnh hưởng chất độc da cam) thì nó cũng không giải quyết vấn đề gì là cái thứ nhất, cái thứ hai là cái thằng kia nó cứ lếch lác như thế, thế là mới quyết tâm đẻ thêm đứa nữa xem nó thế nào”(Nữ, 55 tuổi, Đông Anh – Hà nội)

Hay như suy nghĩ của một phụ nữ đó sinh đứa con đầu bị tật nguyền, nay quyết định sinh con thứ hai: “Hai vợ chồng nhà em đúng là cũng phân vân. Cũng có đứa nó bị, cũng có đứa nó không, sợ ảnh hưởng chất độc da cam đấy, cũng hỏi để muốn đi lắm nhưng vì một là điều kiện cũng không có, hai là thủ tục cũng không biết như thế nào, bọn em cũng không đi. Lúc con nhà em ba tuổi thì bảo thôi nó lớn rồi thì sinh nhưng rồi nó cũng cứ đi viện suốt(....). Cứ đẻ thôi. Giờ mà em sinh thì cũng lo lắm, không biết là nó có được bình thường hay không”.(Nữ, 30 tuổi, Thạch Thất – Hà Tây)

Trong bối cảnh đó, người phụ nữ này lại được sự ủng hộ của cha mẹ chồng, và điều này củng cố thêm quyết tâm sinh con của họ “Nói chuyện với bà thì bà bảo là cứ sinh ra đi chứ biết làm thế nào được, có phải là nhà nào khi đẻ con đều bị cả đâu. Đây là cũng cứ nghi ngờ nhiều thôi chứ còn cũng cứ sinh. Bọn em cũng quyết định thôi cũng cứ sinh thôi chứ cũng chả biết làm thế nào được”.(Nữ, 30 tuổi, Thạch Thất – Hà Tây)

Có thể thấy, người phụ nữ này đã hình dung được rủi ro có thể xảy ra với con cái. Sinh con trong tâm trạng vừa hy vọng vừa lo lắng, hoài nghi không biết con mình đẻ ra có bình thường hay lại bị ảnh hưởng của di chứng chất độc da cam/dioxin. Ngay cả với những gia đình có đứa con nhỏ đang bình thường, thì họ cũng sống trong nỗi lo phập phồng chờ đợi: liệu mai này con mình có bị di chứng của chất độc da cam hay không? Bởi vì, có không ít trường hợp lúc sinh ra hoàn toàn mạnh khoẻ, nhanh nhẹn nhưng khi lớn lên độ tuổi vị thành niên thì mới phát bệnh, những triệu chứng của chất độc da cam/dioxin mới bộc lộ. Có thể thấy điều này ở một gia đình có con là nạn nhân chất da cam quê Ý Yên, Nam Định về chuyện kết hôn của con gái. Khi nói chuyện đến đám cưới của con gái sẽ diễn ra trong bốn tháng tới, nỗi lo lắng của họ liên qua đến vấn đề của các anh, em trai xuất hiện “Đứa con gái của chúng tôi đang chuẩn bị làm đám cưới tháng 11. Chồng của cháu là bác sĩ ở đây... Chúng tôi rất lo lắng... Nếu có bất cứ vấn đề gì xảy ra... Tôi không biết là thế hệ sau sẽ thế nào..” (Phạm Hương Thảo và cs, 2006)

Với những gia đình đã có con bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam, thì nỗi thương con, lo cho tương lai của con, là vô bờ bến.Và tất nhiên không thể kể hết những vất vả của người mẹ, người bà, người cha khi chăm sóc đứa con tật nguyền bởi di chứng chất độc da cam. Dẫu vậy, dường như các gia đình có thế hệ thứ ba có thành viên là nạn nhân của chất da cam họ vẫn hy vọng, cho dù đó là sự hy vọng quá đỗi mong manh: biết đâu đứa con sau của mình sẽ không bị ảnh hưởng của chất độc da cam. Sợi dây hy vọng mỏng manh này lại có sức níu kéo, lôi cuốn họ đi những bước tiếp theo trong việc thực hiện chức năng sinh sản. Điều này - niềm hy vọng mong manh đó – có thể thấy qua ý kiến của người bà trong những gia đình nói trên, họ nói về nỗi lo lắng khi chờ đợi con dâu sinh đứa cháu nội thứ hai: “Lo chứ, khi mà con dâu thứ 2 đẻ cháu thứ 2 không việc gì thì lúc đó tư tưởng của tôi mới đỡ, tôi cũng cứ tự động viên là: “bì lên thì chả bằng ai nhưng bì xuống thì tôi xem tivi tôi lại chia sẻ với mọi người còn nặng nề hơn tôi và tôi lại tự động viên tôi” 

 Hộp 3: Mỗi lầ sinh con là thấy lo sợ

Năm lần chị mang thai, chỉ có một bé trai ra đời và lớn lên bình thường. Đó là trường hợp chị Lê Thị Tẹo, sinh 1945 tại Hà Nam. Chị lấy anh Nguyễn Văn Quí năm 1965. Năm 1966 - 1968, anh chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ và nhiễm chất độc da cam. Hiện anh thường đau khi các vết thương tái phát, không làm được việc nặng. Chị Tẹo là lao động chính trong nhà. Năm 1976 chị mang thai, sinh ra bọc thịt 7 tháng, không rõ hình người, sau vài giờ tim ngừng đập. Cuối năm, chị mang thai 3 tháng nhưng bị sảy thai. Năm sau, chị sinh cháu Nguyễn Thị Vân, cháu bị mù mắt bẩm sinh, mổ nhưng không khỏi. Năm 1979, cháu Nguyễn Văn Thông ra đời, bình thường. Năm 1982, chị sinh cháu Nguyễn Văn Cảnh, cháu bị bại liệt bẩm sinh, ăn uống khó khăn, và cháu mất năm 18 tuổi. Chị Tẹo tâm sự: “Mỗi lần sinh là một lần nơm nớp lo sợ, lúc nào cũng suy nghĩ không biết con mình sinh ra có thành người không”.(xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) (CGFED, 2004)

 Trong các trường hợp nghiên cứu của CGFED, thế hệ thứ ba là nạn nhân của chất độc da cam có những trẻ em là cháu nội, là cháu ngoại của những người thuộc thế hệ thứ nhất bị nhiễm chất độc da cam/dioxin. Có nghĩa là, dù con trai hay con gái cũng đều có thể bị di chứng của chất da cam/dioxin từ cha mẹ và có thể truyền sang thế hệ tiếp theo.

Cũng cần lưu ý rằng, trong thực tế, với những gia đình nạn nhân chất độc da cam, thì có không ít gia đình cả ba, bốn con đều bị tật nguyền; song cũng có gia đình thì di chứng của chất độc da cam hình như lại “né tránh” một hai đứa con, chứ không phải tất cả những đứa con của họ đều bị ảnh hưởng chất độc da cam. Thực tế đó, cũng là cơ sở để họ hy vọng với suy nghĩ “Biết đâu, may ra đứa con sau không bị tật nguyền”. Thêm nữa, theo ý kiến của các bác sĩ khi khám bệnh cho con, cho cháu họ cũng nói như vậy, lại càng có tác dụng khuyến khích các cặp vợ chồng đã có con tật nguyền sinh thêm con“Các chị bảo là nó theo cái gene, người thì theo gene thế hệ thứ 2, người thì theo gene hệ thứ 3 chứ nó không phải cũng bị tất. Tôi hỏi sao đứa con của con gái không việc gì thì các chị bảo nó gene nhà khác nên không ảnh hưởng gì” (Nữ, 53 tuổi Thạch Thất, Hà Tây)

Hy vọng mỏng manh đó, sẽ càng tăng thêm rủi ro nếu theo đuổi sinh con trai, vì cơ may có được con trai với các gia đình nạn nhân chất độc da cam càng thấp. Phân tích trong nhóm những người cha bị nhiễm dioxin cho thấy mức độ tích tụ dioxin trong máu càng cao càng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sinh con trai. Chẳng hạn như những người cha có mức độ dioxin từ 61 tới 117 ppt, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và dioxin từ 118 trở lên, tỷ lệ đó giảm xuống còn 40%. Quan trọng hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn nhận xét rằng những người cha bị nhiễm dioxin trong độ tuổi dậy thì có tỷ lệ sinh con trai chỉ khoảng 40%. Điều này cho thấy ảnh hưởng của dioxin bắt đầu rất sớm và có thể kéo dài vĩnh viễn. (Nguyễn Văn Tuấn, 2004: 95). Trong các trường hợp nghiên cứu của CGFED, phần lớn thế hệ thứ hai không có biểu hiện nặng, mà chỉ là những triệu chứng nhẹ, hoặc dường như bình thường; khiến cho chính người trong cuộc cũng không phân biệt được với những biểu hiện của các bệnh thông thường khác.

Rất nhiều gia đình mà chúng tôi gặp đã trải qua quãng đời nặng nề, đã mang những gánh nặng mặc cảm tội lỗi và lo lắng mà chất độc da cam đã làm cho họ ốm yếu, làm cho con cái họ và thế hệ thứ 3, thứ 4  cũng có thể bị ảnh hưởng.

Di chứng chất độc da cam/dioxin truyền qua các thế hệ sau thông qua chức năng sinh sản của các gia đình. Nghiên cứu cho thấy chất độc da cam/dioxin có những ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản của phụ nữ (Indai Sajor và Lê Thị Nhâm Tuyết, 2000; Nguyễn Thị Ngọc Phượng 2002; B. Eskenazi, 2002; L. Schwartz, 2002; Lê Bách Quang, 2002; Lê Thị Nhâm Tuyết và Annika Johansson, 2002). Có thể chỉ ra những tác động chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, là những tai biến khi sinh sản. Ở Việt Nam đã có một vài nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin đối với sinh sản. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phượng (1993) khi so sánh các tai biến thai sản giữa hai nhóm phụ nữ sinh trước (1933- 1963) và sau chiến tranh hoá học (1964 – 1970) cho thấy dị tật bẩm sinh, thai chết lưu của nhóm sau chiến tranh hoá học cao hơn 10 lần, và chết chưa sinh cao hơn 17 lần (Hoàng Bá Thịnh, 2006)

Nghiên cứu khác gần đây (Hoàng Đình Cầu, 2003) về tai biến thai sản khi so sánh hai nhóm cựu chiến binh có và không nhiễm chất da cam/dioxin, cho thấy sự khác biệt rất cao về những dị tật, tai biến và tử vong trẻ em. Ví dụ, số gia trường hợp sinh con khuyết tật cao hơn 15 lần, tai biến sản khoa cao hơn 10 lần, tai biến sinh sản cao hơn 13 lần (Hoàng Bá Thịnh, 2006). Trong những nghiên cứu của CGFED, hầu hết các trường hợp đều sinh con khuyết tật ở mức độ khác nhau, từ nhẹ đến nặng; cùng với những biểu hiện khác là những tai biến khi mang thai, sinh nở. Trong tổng số 206 phụ nữ mà CGFED khảo sát tại 16 tỉnh, thành phố từ 2000 đến 2005 với 866 lần mang thai thì:

-        Trung bình mỗi người phụ nữ mang thai 4.3 lần (cao nhất: 13 tại A Lưới) - Trong số 886 lần mang thai, các biểu hiện của chấm dứt thai nghén như sau:

-        Sinh ra bình thường: 404 (Nam: 169, Nữ: 193, không nhớ: 42): 46,6%

-        Sinh ra bị dị tật: 291 (Nam: 138, Nữ: 135, không nhớ: 28): 33,6%

-        Đẻ non và chết ngay: 32 (Nam: 6, Nữ: 6, không nhớ: 20): 3,6%

-        Chết lưu trong bụng mẹ:18: 2%.

-        Sảy thai: 56 : 6,4%.[3] 

-        Số đã chết : 65 (Nam: 36, Nữ: 18, không nhớ: 11): 7,5%

Có thể thấy, phụ nữ họ cũng không mấy khi quan tâm lắm đến việc sảy thai, họ coi những chuyện đó rất bình thường, bằng chứng là nó không phải là mốc đáng nhớ trong chuỗi chuyện kể của họ hay khi đôi khi hỏi đến việc sảy thai thì họ cũng không thể nào nhớ nổi số lần đã sảy thai.

Thứ hai, di chứng chất độc da cam đối với thế hệ sau qua đường sữa mẹ. Năm 1988, tổ chức Y tế thế giới (văn phòng Châu Âu) tổ chức một nghiên cứu hàm lượng dioxin trong sữa phụ nữ của khoảng trên 40 nước trên thế giới. Kết quả cho thấy, ngay cả những năm gần đây hàm lượng dioxin trong sữa phụ nữ Việt Nam vẫn còn cao hơn phụ nữ ở các nước khác, kể cả các nước công nghiệp trên thế giới (Hoàng Bá Thịnh, 2006). Ba năm trước, các nhà khoa học Việt Nam và Hatfield đã tiến hành đo nồng độ dioxin trong máu và sữa mẹ của những công nhân tại sân bay Đà Nẵng và kết quả cho thấy nồng độ này cao gấp 100 lần mức Tổ chức Y tế thế giới cho phép.(Chicago Tribune, 2009)

Điều này hàm ý rằng, khi sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ, người mẹ có dioxin trong sữa có nhiều nguy cơ lây nhiễm sang đứa con của mình, và trong những trường hợp đó, sự di truyền sang thế hệ sau là rất khó tránh khỏi.

 Bàn luận

Khó mà nói đủ và nói hết được những tổn thương tâm lý, tinh thần cũng như thể chất hoặc tốn kém về thời gian, sức lực và kinh tế của những gia đình có người thân là nạn nhân chất độc da cam. Là người những người may mắn không bị ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin, nhiều lắm thì chúng ta cũng chỉ có thể hiểu được ở một mức độ nào đó, với sự cảm thông, chia sẻ về những mất mát vô biên mà họ đang hàng ngày, hàng giờ phải gánh chịu. Nhưng chúng ta không thể nào hiểu hết được những vất vả, lo toan, sự tổn thương tâm lý, tinh thần mà họ với nghị lực như những người anh hùng đã và đang chứng kiến người thân ruột thịt đang bị hành hạ bởi các loại hình bệnh tật do chất da cam/dioxin gây nên.

Có lẽ chưa biết đến bao giờ những nỗi đau khổ về tinh thần, sự mặc cảm về “kiếp trước ăn ở thất đức” của họ mới giảm bớt. Biết đến khi nào những giọt “nước mắt da cam” mới ngưng rơi? Đến khi nào người làm cha mẹ có thể yên lòng nhắm mắt khi không còn nỗi lo lắng về  đứa con tật nguyền do chất da cam? Những câu hỏi ấy, cho đến nay vẫn chưa có lời đáp.

Hàng triệu nạn nhân chất độc da cam do Mỹ rải trong chiến tranh Việt Nam đã và đang bị tước quyền con người. Quyền được sống khoẻ mạnh, quyền được lao động, được học tập như bao người bình thường khác. Hàng triệu cặp vợ chồng đã và đang bị tước quyền sinh sản, vì sức khoẻ sinh sản của họ bị chất da cam tước đoạt. Hàng ngàn người không được quyền làm cha, làm mẹ - một điều mà hàng triệu người bình thường khác dễ dàng thực hiện được.

Với nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, các nhà khoa học có thể nghiên cứu và đưa ra những chứng cứ khoa học - tự nhiên và xã hội, nhân văn - về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin với cuộc sống con người, môi trường. Tuỳ theo năng lực và điều kiện, chúng ta có thể giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam theo những cách khác nhau. Bên cạnh đó, cần giúp họ và phải làm cho họ hiểu rõ hơn tác hại của chất độc da cam và những điều không nên làm, nếu không sẽ còn nhiều cảnh rất thương tâm. Chỉ vì họ quan niệm rằng, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng gia đình của con cái mình. Như trường hợp người cha sau đây lo cho hạnh phúc của đứa con trai bị ảnh hưởng của chất độc da cam “Bây giờ câu chuyện nó tung toé ra mà con gái nó biết anh này bị nhiễm chất độc da cam lấy thì sẽ không có hạnh phúc, ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới chúng nó cho nên tôi muốn thoát ra, đưa vợ chồng con cái ra ngoài Bắc” (Nam giới, 72 tuổi, cán bộ nghỉ hưu, Tp. Biên Hoà).

Với chúng ta, việc gác lại quá khứ hận thù, hướng tới tương lai, không có nghĩa là lãng quên quá khứ. Chỉ khi ứng xử trách nhiệm với quá khứ, người ta mới có trách nhiệm với tương lai. Và như thế, nhân quyền, công bằng, dân chủ không thể chỉ là chuyện dạy dỗ người khác, không thể chỉ là độc quyền ban phát của nước giàu, kẻ mạnh. 

Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc 35 năm, nhưng với rất nhiều cựu binh và người thân trong gia đình của họ, cuộc chiến với bệnh ung thư, bệnh đái tháo đường, bệnh liệt rung Parkinson hay những căn bệnh khác có liên quan tới chất làm rụng lá cây mà Mỹ sử dụng từ hơn 50 năm trước trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, chỉ mới bắt đầu. 

Trong khi chính phủ Mỹ còn chậm trễ nhận trách nhiệm với những nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam, thì nhiều nhà khoa học, người dân Mỹ lại đã, đang hành động trong cuộc đấu tranh vì công lý cho nạn nhân chất độc da cam. Như bà Merle Ratner, người phụ nữ Mỹ đã tham gia vào phong trào phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam từ năm 13 tuổi, đến nay sáng lập “Cuộc vận động  cứu trợ và trách nhiệm với nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam” và là bạn đồng hành tích cực của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam. Năm 2005, ngay sau khi chánh án Weinstein chối bỏ vụ kiện của nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, bà đã nói “Những người sống sót từ cuộc chiến tranh hoá học do Chính phủ Mỹ gây nên, đã chờ đợi công lý quá lâu, hơn 30 năm trời” và “Nếu hệ thống pháp lý không thể đem lại công bằng thì nhân dân Mỹ sẽ làm chuyện đó”.

PGS.TS. Hoàng Bá Thịnh

Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Công tác xã hội,

 ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Bộ Y tế (2002): Báo cáo Tóm tắt Hội nghị Khoa học Việt - Mỹ về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin lên sức khoẻ con người và môi trường. Hà Nội.

2.     Hoàng Đình Cầu (2003): Môi trường và sức khoẻ ở Việt Nam (30 năm sau chiến dịch Ranch Hand). Nxb Nghệ An - Viện nghiên cứu và phổ biến kiến thức bách khoa, Hà Nội.

3.     Lê Cao Đài (1999): Chất da cam trong chiến tranh Việt Nam – Tình hình và hậu quả. Hà Nội.

4.     Eva Lindskog, Annika Johansson, Phạm Hương Thảo (2006): Hậu quả của chiến tranh hoá học ở Việt Nam - Những điều đã biết và chưa biết; Tạp chí Dân tộc học, số 1 (139) 2006, tr. 12-17

5.     Indai Saijor – Lê Thi Nham Tuyet (2000): Agent Orange: Impact of Chemical Warfare on Reproductive Rights of Women and Men in Vietnam; Asian Centre for

Women’s Human Rights (ASCENT) – Research Centre for Gender, Family and Environment in Development (CGFED), Manufactured in the Philippines by Microbytes Desktop Publishing.

6.     Quế Đình Nguyên - Hoài Thu: Chất độc da cam, nỗi đau và nghị lực, báo Nhân dân; 12/8/2009

7.     Hoàng Bá Thịnh (2006): Về những gia đình có thế hệ thứ ba là nạn nhân chất độc da cam; Tạp chí Dân tộc học, số 1 (139) 2006, tr. 90-98 8. Lê Thị Nhâm Tuyết (2006): Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam - Những điều mong muốn; Tạp chí Dân tộc học, số 1 (139) 2006; tr. 4-6.

9.     Phạm Hương Thảo, Annika  Johansson, Trần Minh Hằng (2006): Hậu quả xã hội của chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam “Dưới đám mây u ám của sự không hiểu hiết”; Tạp chí Dân tộc học, số 1 (139) 2006, tr.103-109

10. Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển (CGFED): Tư liệu nghiên cứu về nạn nhân chất độc da cam; 2003-2006.

11. Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED) (2004): Stories of Agent Orange Victims in Vietnam; The Gioi Publishing House, Hanoi. 12. Nguyễn Văn Tuấn (2004): Chất độc da cam dioxin và hậu quả; Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

13. Jason Grotto and Tim Jones: Agent Orange's lethal legacy: For U.S., a record of neglect; Chicago Tribune December 4, 2009

14. Tim Jones:  Agent Orange's lethal legacy: For Vietnam War veterans, injustice follows injury; Chicago Tribune December 6, 2009

15. Jason Grotto: Agent Orange: Birth defects plague Vietnam; U.S. slow to help; Chicago Tribune December 8, 2009

16. Jason Grotto:  Agent Orange's lethal legacy: At former U.S. bases in Vietnam, a potent poison is clear and present danger; Chicago Tribune December 9, 2009

17. Jason Grotto and Tim Jones: Agent Orange's lethal legacy: Defoliants more dangerous than they had to; Chicago Tribune December 9, 2009

18. Walter Isaacson - Geoffrey Cain -Joshua Kurlantzick - Clay Risen and Phillip Longman: The Agent Orange Boomerang: A dark legacy of Vietnam War is creating a whole new set of problems (Special Report); Washington Monthly-

January/February, 2010. 

 

 



[1] - Hội thảo với sự tham dự của hơn 100 đại biểu đến từ 11 quốc gia là các nhà khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, đại diện các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong nước và quốc tế cùng các nhà hoạt động xã hội, đại diện Hội chữ thập đỏ, Hội Nạn nhân chất độc da cam, Hà Nội, 16 -17/3/2006

 

[2] - Một tài liệu nghiên cứu cho rằng, một khối lượng tương đương 600kg chất TCDD tinh khiết đã được rải và đổ xuống Việt Nam trong chiến tranh (Hileman, 2003, Stellman, 2003. Dẫn theo Kenneth, 2006).

[3] - Thực tế con số trên còn cao hơn nhiều. Đôi khi còn nhầm lẫn giữa sảy thai, thai chết lưu và đẻ non nên làm cho việc cung cấp số liệu không được chính xác.

 

Bình luận

Gửi bình luận
Bình luận

    Tin khác