• Quảng cáo: 0246.265.2654
Tiếng Việt
English
logo
ĐOÀN KẾT - NGHĨA TÌNH - TRÁCH NHIỆM - VÌ NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM

Ứng dụng công nghệ sinh học, phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới

Ngày 30/01/2023, Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW “về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới”. Tinh thần của Nghị quyết xác định tập trung phát triển, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc cần chủ động ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học… đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Là cơ quan thường trực của Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, trong đó có vũ khí sinh học, Đảng ủy Binh chủng Hóa học đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đưa Nghị quyết vào cuộc sống. 

Những năm qua, việc phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng tiềm lực quốc phòng của đất nước có bước phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu quan trọng; công nghệ sinh học được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống xã hội, tạo đột phá trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, môi trường…, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. 

Thiếu tướng Hà Văn Cử (thứ 6 từ phải sang) tại Hội thảo Báo cáo kết quả thử nghiệm công nghệ xử lý dioxin tại Sân bay Biên Hòa 

Với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trong những năm tới, đòi hỏi có nhiều chủ trương, giải pháp. Nghị quyết số 36 cũng xác định các nhiệm vụ, giải pháp chính để phát triển lĩnh vực này. 
Một là, Thống nhất nhận thức về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong tình hình mới. Vấn đề này đòi hỏi các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp về tầm quan trọng của phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống nhân dân. 
Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Trong đó, nhấn mạnh phải có chính sách thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học; bảo đảm an toàn sinh học. Có chính sách vượt trội, phù hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học có giá trị cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y dược, quốc phòng, an ninh. 
Ba là, tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống; phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
Bốn là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ sinh học, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Trong đó, nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo nhân lực công nghệ sinh học từ giáo dục phổ thông đến đại học và trên đại học. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn. Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu có uy tín đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học. 
Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học. Theo đó, có chính sách mua, chuyển giao, trao đổi công nghệ sinh học, trong đó quan tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới, công nghệ có giá trị cao của thế giới vào Việt Nam.
Phát triển công nghệ sinh học là một hướng đi đúng đắn, mang tính chủ động, đón đầu của Đảng, Nhà nước ta. Tuy vậy, chúng ta cũng lường trước, xác định rõ những khó khăn, đồng thời cảnh giác với việc các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng xấu lợi dụng việc phát triển công nghệ sinh học vào các mục đích xấu, tiêu cực như lợi dụng vũ khí sinh học để khủng bố. Bên cạnh đó, cần đặc biệt phòng tránh những hệ lụy không mong muốn mà quá trình nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học có thể gây ra.
Trên thực tế, việc lợi dụng thành tựu công nghệ sinh học để gây ra các vụ khủng bố bằng vũ khí sinh học hay khủng bố sinh học (bioterrorism) để lại hậu quả vô cùng to lớn. Đó là những hành động làm phát tán có chủ đích các yếu tố sinh học gây hại như vi khuẩn, virus, các độc tố từ vi khuẩn, nấm độc... tạo ra một loại bệnh dịch cho người, vật nuôi với phạm vi sát thương rộng, không giới hạn về không gian, thời gian và rất khó phát hiện. Một vụ tấn công khủng bố bằng tác nhân sinh học có thể gây ra tác hại rất lớn.
Những năm qua, Binh chủng Hóa học đã chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về ứng phó với các tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học. Binh chủng thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, xu hướng phát triển vũ khí sinh học; kịp thời tham mưu, đề xuất các giải pháp ứng phó với các tình huống có thể xảy ra, đã chủ động đề xuất và tham gia soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, trong đó có vũ khí sinh học (như Nghị định 81/2019/NĐ-CP về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, Luật Phòng thủ dân sự...); tham mưu cho Chính phủ, Bộ Quốc phòng thực hiện các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước Vũ khí Sinh học (BWC), Công ước Vũ khí Hóa học (CWC), Hiệp ước không phổ biến Vũ khí Hạt nhân (NPT)... Qua đó, xây dựng, phát triển, từng bước hiện đại hóa lực lượng phòng, chống phổ biến vũ khí sinh học, ứng phó sự cố hóa chất độc, sinh học, bức xạ, hạt nhân (CBRN), đầu tư phương tiện, trang thiết bị phát hiện tác nhân sinh học từ các quốc gia phát triển. Binh chủng thường xuyên tổ chức, chỉ đạo huấn luyện, diễn tập về phòng, chống tình huống phổ biến vũ khí sinh học, ứng phó sự cố hóa chất độc, sinh học, bức xạ, hạt nhân; diễn tập phòng thủ dân sự, ứng phó các sự cố thảm hoạ CBRN, phối hợp hiệp đồng quân binh chủng và chỉ đạo diễn tập tại nhiều địa phương trên địa bàn cả nước.
Quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị (khóa XIII), Đảng ủy Binh chủng Hóa học xác định tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ được Nghị quyết đề cập với Quân đội và Binh chủng Hóa học. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này sẽ góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, gìn giữ hòa bình, phát triển bền vững, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Để đạt được mục tiêu trên, Đảng ủy Binh chủng Hóa học tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ những nội dung, giải pháp sau:
Một là, nâng cao công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức về ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học. Các cơ quan, đơn vị tập trung đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học làm cho bộ đội nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác này, là “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình” của bộ đội Hóa học. Nội dung giáo dục tập trung vào xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm, kỹ năng trong phòng, chống, xử lý các sự cố hóa, sinh học, phóng xạ và thảm họa môi trường; niềm tin vào vũ khí, trang bị và niềm tin chiến thắng; từ đó, nâng cao quyết tâm, trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị hoá học toàn quân làm tốt công tác chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của các ban, bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền, thông tin về tình hình dịch bệnh, kịp thời định hướng dư luận và là lực lượng nòng cốt hướng dẫn nhân dân phòng chống dịch bệnh, phòng chống vũ khí sinh học trong mọi tình huống. 
Hai là, tiếp tục tham mưu, đề xuất với Bộ Quốc phòng, Chính phủ xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng chống phổ biến vũ khí sinh học, ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học. Thực hiện nội dung này, cùng với đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Bộ Quốc phòng và Chính phủ các vấn đề liên quan đến thực thi các điều ước quốc tế, Binh chủng cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan chức năng tiến hành rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách hiện hành, xác định những văn bản cần ban hành, cần sửa đổi bổ sung và những nội dung cần thiết để thực thi đồng bộ, thống nhất, hiệu quả. Trong đó, coi trọng việc xây dựng các quy định nguyên tắc, chính sách, biện pháp, lực lượng, phương tiện phòng, chống vũ khí hủy diệt hàng loạt; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác nhân sinh học và chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học.
Ba là, thường xuyên nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình an ninh sinh học trên thế giới, tham mưu, đề xuất với Bộ Quốc phòng các biện pháp ứng phó, xử lý nhanh chóng, kịp thời, chính xác. Theo đó, Binh chủng chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội thu thập tin tức, nắm tình hình, tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin liên quan đến tình hình an ninh sinh học, đặc biệt là tác nhân sinh học và vật liệu liên quan đến vũ khí sinh học; tăng cường cơ chế giám sát, nắm chắc các hoạt động nghiên cứu, phát triển các tác nhân sinh học, dịch bệnh, sử dụng vũ khí sinh học. Trên cơ sở đó chủ động, tích cực tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các giải pháp đề phòng, ứng phó với các tình huống an ninh phi truyền thống do các tác nhân sinh học gây bệnh cho người gây bệnh trên diện rộng và hoạt động khủng bố, gây bạo loạn có sử dụng tác nhân sinh học.
Bốn là, chủ động xây dựng lực lượng, trang bị bảo đảm sẵn sàng ứng phó việc sử dụng vũ khí sinh học, tác nhân sinh học. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Binh chủng đặc biệt coi trọng tập trung xây dựng, tổ chức lực lượng hóa học chuyên trách tinh, gọn, mạnh có khả năng chiến đấu, khả năng cơ động cao đáp ứng yêu cầu chống khủng bố hóa, sinh học, phóng xạ trong mọi tình huống. Trong đó, ưu tiên xây dựng lực lượng hóa học chuyên trách chống khủng bố phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Binh chủng, bảo đảm đồng bộ có trọng tâm, trọng điểm; được biên chế trang bị chuyên dụng thế hệ tiên tiến để trinh sát, phát hiện, xử lý kịp thời các tình huống hóa học, sinh học, phóng xạ; cơ động nhanh và tham gia chiến đấu giải thoát con tin vô hiệu hóa bọn khủng bố. Xây dựng các kế hoạch, phương án, chuẩn bị sẵn các nguồn lực; thường xuyên tổ chức diễn tập phòng, chống việc sử dụng vũ khí sinh học, tác nhân sinh học nhằm nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành, kỹ năng thực hành, khả năng phối hợp của các lực lượng và năng lực của đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phòng, chống phổ biến vũ khí sinh học.
Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế và phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương trong phòng, chống phổ biến vũ khí sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học. Binh chủng tăng cường trao đổi thông tin liên quan đến an ninh sinh học nói riêng, ứng phó sự cố hóa chất độc, sinh học, bức xạ, hạt nhân nói chung, tăng cường hợp tác trong khuôn khổ mạng lưới giám sát an ninh sinh học liên kết toàn cầu, nhất là tăng cường triển khai mạng lưới chuyên gia quân sự Asean về hóa học, sinh học, phóng xạ. Trong đó, đẩy mạnh hợp tác về dự báo, cảnh báo, sử dụng trang thiết bị, cơ chế phối hợp hành động; nghiên cứu chuyển giao công nghệ mới, công nghệ có giá trị cao của thế giới vào Việt Nam. Đồng thời, tích cực tham gia các đợt diễn tập, tập huấn về phòng, chống phổ biến vũ khí sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học trong khu vực để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy và ứng phó với các tình huống./.

             Thiếu tướng Hà Văn Cử 
                           Tư lệnh Binh chủng Hóa học

Bình luận

Gửi bình luận
Bình luận

    Tin khác