Phá tan "Cửa ngõ" phía đông của địch
Tôi nhớ như in không khí ác liệt của trận đánh chiếm căn cứ Nước Trong ngày 26-4. Đối phương sử dụng xe tăng và bộ binh chống trả quyết liệt hòng chặn đường tiến công của ta. Sau khi phá vỡ tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở phía Đông. Thực hiện mệnh lệnh từ cấp trên, chúng tôi không dừng lại đánh dứt điểm từng chốt nhỏ mà dùng sức mạnh xe tăng diệt các ổ đề kháng chính, tạo hành lang cho cả đơn vị tràn qua. Địch bị tan rã, binh lính Ngụy vứt bỏ quân phục trà trộn vào dân để lẩn trốn. Nhìn những xác xe bọc thép M-113, M-41… của địch nằm cháy thui bên vệ đường, chúng tôi biết rằng giờ phút quyết định đang đến gần. Chúng tôi mỗi người mang theo một nắm cơm và một gói lương khô 701. Tôi nhớ nhất người bạn tên Thắng "còi" quê Thái Bình ngồi cạnh tôi trên xe ô tô. Thắng vừa nhai miếng lương khô vừa lẩm bẩm: "Này, nghe bảo vào Sài Gòn có kem, có nước ngọt đấy?". Mấy anh em cười ồ lên. Lúc đó, ước mơ của chúng tôi giản đơn lắm: một gáo nước mát để rửa mặt và một giấc ngủ không phải giật mình vì tiếng súng.
Trong năm cánh quân tiến về Sài Gòn, Quân đoàn 2 đảm nhiệm hướng Đông và Đông Nam. Sáng sớm ngày 29-4, pháo binh 130mm của Quân đoàn đặt tại Nhơn Trạch bắt đầu nổ liên hồi, bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất.
Trận chiến ác liệt tại cầu Sài Gòn
Mũi đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 do Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn trực tiếp chỉ huy. Đêm 29/4, chúng tôi gần như không chợp mắt, hừng hực khí thế chuẩn bị cho đòn thọc sâu vào thẳng sào huyệt của địch ở Sài Gòn. Khoảng 5giờ 30 phút ngày 30-4, chúng tôi được lệnh xuất phát trong đội hình thọc sâu theo xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn. Hình ảnh những chiến sĩ bộ binh ngồi trên xe tăng, ô tô, súng AK lăm lăm, mũ cối nhấp nhô giữa làn khói xám xanh là hình ảnh hùng tráng nhất mà tôi từng chứng kiến. Đó là sự kết hợp hoàn hảo giữa sức mạnh cơ động và tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Dọc đường hành tiến, đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 quét sạch các chốt chặn của địch 2 bên đường.
Khoảng 9 giờ sáng, "chướng ngại vật" cuối cùng hiện ra: Cầu Sài Gòn. Đây là nơi diễn ra cuộc đọ súng nghẹt thở nhất. Tôi nhớ rõ: khi xe tăng của Lữ đoàn 203 vừa lên nhịp cầu thì bị hỏa lực từ các tàu chiến dưới sông và xe tăng đối phương bên kia cầu bắn chặn dữ dội. Tôi ngồi trên xe trong đội hình bám theo sau. Đồng chí Ngô Văn Nhỡ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/Lữ đoàn xe tăng 203 trúng đạn bị hy sinh, nhưng không ai lùi bước. Xe tăng số hiệu 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy và xe 390 của Chính trị viên Vũ Đăng Toàn vượt lên, đập tan ổ kháng cự cuối cùng để dẫn đầu đội hình tiến vào nội đô. Những phát đạn từ pháo 100mm trên xe T-54 của ta nã thẳng vào các vị trí hỏa lực địch. Tiếng súng cao xạ 12,7mm trên nóc xe tăng khạc lửa liên hồi vào các điểm bộ binh địch đang cố thủ. Sau gần một giờ chiến đấu ác liệt, chúng tôi làm chủ được cầu Sài Gòn.
Khúc khải hoàn tại Dinh Độc Lập
Qua cầu Sài Gòn, đoàn xe tiến vào đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) rồi rẽ sang đại lộ Thống Nhất (Lê Duẩn). Tôi nhớ rõ một bác đứng trên vỉa hè vẫy tay thật mạnh rồi thốt lên một câu bằng giọng Nam Bộ đặc sệt: "Mấy chú giải phóng tới thiệt rồi hả?". Tôi hét lên: "Bác ơi, vào nhà đi, nguy hiểm lắm!". Cái khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra mình không còn ở chiến trường nữa, mình đang đi giữa đồng bào mình.
Lúc 10 giờ 45 phút, xe tăng 843 tiến đến cổng Dinh Độc Lập. Anh Bùi Quang Thận lái xe húc vào cổng phụ nhưng xe bị khựng lại. Ngay lập tức, xe 390 của anh Vũ Đăng Toàn lao tới, húc sập cánh cổng chính, hiên ngang tiến vào sân Dinh.
Từ phía sau, chúng tôi cũng nhanh chóng tiến về Dinh Độc Lập, bước xuống xe giữa cái nắng tháng tư rực rỡ, súng lăm lăm trong tay. Anh Bùi Quang Thận từ xe tăng 843 nhảy xuống, chạy lên ban công Dinh Độc Lập phất cao lá cờ cách mạng - đồng hồ chỉ đúng 11 giờ 30 phút. Tôi đưa tay quệt lớp bụi trên mặt, nhìn lên lá cờ tung bay trên nóc Dinh mà lòng nhẹ bẫng. Không gian bỗng chốc lặng đi một nhịp trước khi vỡ òa trong tiếng reo hò "Hòa bình rồi! Giải phóng rồi!". Chiến tranh đã thực sự kết thúc. Thật vinh dự cho chúng tôi là một trong những người có mặt tại Dinh Độc Lập trong những giờ phút lịch sử này.
Trưa 30/4, sau khi lá cờ tung bay, chúng tôi ngồi ngay dưới bóng cây trong sân Dinh. Một chị phụ nữ ở phố gần đó bưng ra một rổ bánh mì và mấy chai nước ngọt. Đó là lần đầu tiên tôi biết hương vị của bánh mì Sài Gòn – nó thơm phức mà hiện nay tôi vẫn nhớ cảm giác đó. Và ngày hôm sau khi tuần tra trên đường phố một bà má gầy gò, mặc áo bà ba hoa, bưng ra một khay nước đá chanh cười hiền hậu: "Uống đi mấy con, nắng nôi bụi bặm quá trời, đừng ngại!". Thắng "còi" và tôi được thưởng thức những ly nước đá mát lạnh – thứ xa xỉ mơ ước suốt dọc đường hành quân. Và Thắng "còi" không còn hỏi về kem nữa. Những người lính trẻ chúng tôi lúc đó, ai cũng có một nỗi niềm riêng nhờ về gia đình, người yêu; chúng tôi buồn vì đồng đội vừa ngã xuống ngay cửa ngõ thành phố chỉ vài giờ trước, không có mặt để hưởng niềm vui trong ngày đại thắng.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng mỗi khi tháng Tư về, tiếng xích xe tăng trên mặt cầu Sài Gòn vẫn còn vang vọng trong tâm trí tôi. Chúng tôi, những người lính Quân đoàn 2, luôn tự hào vì đã góp phần viết nên trang sử hào hùng nhất của dân tộc – Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Nguyễn Đức Trung - Nguyên chiến sĩ Sư đoàn 304/Quân đoàn 2












.jpg)

.jpg)
Bình luận