Là con út trong một gia đình ba anh chị em, tôi được diễm phúc hơn, đến tuổi cha mẹ đầu tư cho học lấy cái chữ, sau này vào đời trước giúp gia đình sau giúp đời và biết nuôi trí lớn rèn đức luyện tài vì ngày mai lập danh lập nghiệp. Để có thành quả nho nhỏ như hiện tại trước hết biết công cha nghĩa mẹ ơn thầy, quên sao tình đồng môn đồng nghiệp còn mình chỉ là con người cầm chắc cây bút, học học nữa và học mãi. Tôi được nghe cha kể về cuộc đời đẹp nhất tuổi 20. Những năm tháng cả nước đồng khởi ra trận bởi kẻ thù buộc ta ôm cây súng.

Cha tôi tên là Nguyễn Anh Đài, sinh năm 1948, quê thôn Tràng An, xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Học hết lớp 10/10, năm 1970 cha tôi nhập ngũ thuộc đơn vị 467, trung đoàn 568. Hơn 8 năm quần nhau với giặc, lúc ở đường 9 Nam Lào, khi vào tận Sông Bé, tỉnh Bình Dương. Vì điều kiện sức khỏe, năm 1978 cha tôi ra quân, về Công ty phát hành sách Hà Bắc, đến năm 1991 nghỉ chế độ mất sức. Trở về cuộc sống đời thường, cha chẳng ngày nào ngơi và cũng không ngày nào nghỉ, cùng mẹ tần tảo lao động, nuôi ba anh chị em chúng tôi, chỉ mong no cái bụng. Chuyện đã xảy ra trong tổ ấm gia đình ngoài ý muốn mà anh chị phải gánh chịu suốt đời.

Năm 1970, trước ngày lên đường nhập ngũ, ông bà lo vợ cho cha, mẹ con là cô gái cùng thôn, tên là Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1951, hay lam hay làm, chịu thương chịu khó để chồng yên tâm việc nước, mẹ trọn vẹn việc nhà. Năm 1972, mẹ sinh bé trai, bố đặt tên là Nguyễn Văn Hải. Quá nghiệt ngã, đến lần thứ 2, năm 1974 mẹ lại sinh bé gái tên là Nguyễn Thị Hoa; anh chị của tôi đều bị ảnh hưởng di chứng của chất độc da cam/dioxin truyền từ dòng máu của cha do di chứng của chiến tranh để lại. Nếu Nguyễn Văn Hải lúc mới sinh chẳng khác nào cục thịt, lọt lòng mẹ không cất tiếng khóc chào đời như bạn bè cùng trang lứa, mẹ buồn một thì cha buồn mười. Hải càng lớn càng khác người, không nói được, suốt ngày đi lang thang, miệng ngậm tờ giấy, tay hất tờ giấy lên rồi lại kéo tờ giấy xuống, ai nhìn thấy cũng thương hại nhưng cũng chẳng làm thế nào được. Cũng một kiếp làm người mà mới 10 tuổi tóc bạc, răng rụng, tay chân teo dần, cả ngày đòi uống nước. Còn em gái của Hải là Hoa cũng chịu chung số phận nhiễm chất độc da cam với anh. Suốt ngày chỉ ngồi im không khóc, cũng chẳng cười, đói cũng như no, đôi mắt đờ đẫn, ai gọi ai nói gì cũng bỏ ngoài tai…

Vượt lên đau khổ về thể xác lẫn tinh thần, cha tôi bàn với mẹ và được mẹ đồng thuận, vay tiền ngân hàng cộng với sự trợ giúp của bạn bè, người thân, tích cóp của gia đình mua xe ô tô để chở khách từ Bắc Giang đi TP Hồ Chí Minh và ngược lại, 3 chuyến/tháng. Phương châm bám bến bám khách, 15 năm chạy đua với thời gian (1993 - 2010) nhà xe Đài - Nguyệt lấy chữ tín quý hơn vàng, địa chỉ đỏ cho những quý khách thập phương. Ai cũng hiểu, cái gì cũng chỉ có một thời hưng thịnh, ước mơ cả nhà no bụng từng giây từng phút hiện hữu trong tổ ấm có tới hai người là NNCĐDC. Nay đã bước vào cái tuổi xưa nay hiếm, cha tôi đã phải tạm xa vô lăng về quê cùng mẹ chăm sóc nuôi dưỡng anh chị Hải - Hoa, ngày thường cũng như khi trái gió trở trời. Được biết, với 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin và trên 3 triệu người là nạn nhân, cha và anh chị tôi nằm trong số đó.

Cũng xin được bật mí về người kể câu chuyện nghị lực của cha, cậu “ấm” con út của ông bà Nguyễn Anh Đài - Nguyễn Thị Nguyệt, là Nguyễn Anh Hưng, sinh năm 1981, bác sĩ công tác tại Bệnh viện răng hàm mặt Trung ương (Hà Nội), vợ là thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Mận, sinh năm 1981. Đôi vợ chồng trẻ này cùng làm việc tại cơ quan và đã có hai con trai. Hiện Nguyễn Anh Hưng đang theo học tiến sỹ. Dù bận trăm công ngàn việc chuyên môn, Hưng - Mận vẫn dành thời gian về thăm hai bên nội ngoại, bố mẹ, đặc biệt là anh chị Hải, Hoa. Một khi bố mẹ có mệnh hệ gì, anh Hải, chị Hoa ở lại, thì người gánh vác chắc chắn là vợ chồng Hưng Mận. Ông Nguyễn Anh Đài nói với chúng tôi như vậy./.

Trần Đại Tứ (Trần Lê)